Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HƯỚNG DẪN PHẬT PHÁP CHO NGÀNH THIẾU


 A. ĐẶT VẤN ĐỀ

Tổ chức GĐPT được khai sinh cách đây hơn 60 năm. Trong quá trình tồn tại và phát triển Tổ chức - để thích hợp cho từng thời kỳ - Chư tôn đức cố vấn Giáo hạnh và các anh chị Huynh trưởng GĐPT đã có nhiều cuộc Hội nghị, hội thảo nhằm tìm ra các phương pháp giáo dục phù hợp. Trong những ngày sơ khai, Nội quy GĐPT đã phân chia lứa tuổi đoàn sinh ra thành 3 bậc (cấp) học theo sự phát triển Tâm – Sinh lý và từng cấp độ nhận thức của tư duy: Thanh - Thiếu và Đồng Niên. Việc phân định 3 bậc học nhằm giúp cho Tổ chức và Huynh trưởng - những người hướng dẫn tu học cho các em – có hình thức và phương pháp truyền đạt thích hợp.
Sau 1975 do tình hình đất nước, tổ chức GĐPT có 1 thời gian khá dài tạm ngưng sinh hoạt, mặc dầu còn nhiều khó khăn, các anh chị HT cốt cán và tâm huyết với màu Lam của từng địa phương đã tìm mọi cách để duy trì tổ chức. Trong thời điểm này, do bối cảnh chung nên việc huấn luyện, đào tạo hàng ngũ HT còn manh múm và đôi khi không được kỹ lưỡng. Hơn thế nữa do điều kiện cá nhân của từng HT nên khả năng nhận thức, tiếp thu và hướng dẫn các bài học trong chương trình của từng người còn nhiều điều chưa chính xác. Năm 1992 Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam chính thức đưa lại vấn đề GĐPT lên chương trình nghị sự, Tổ chức bắt đầu giai đoạn phục hoạt và sự tồn tại của GĐPT được chính thức thừa nhận sau Đại Hội GHPGVN năm 1997. Kể từ đó các đơn vị GĐPT lần lượt hoặc được công khai, hoặc tái thành lập hoặc hình thành mới, và chính từ sự việc trên đã đặt cho Phân Ban Hướng Dẫn 1 khó khăn nhất định khi hàng ngủ HT vừa thiếu, lại vừa không đồng nhất về khả năng, trình độ.

Từ đó việc huấn luyện HT đặt ra 1 yêu cầu cấp thiết nhất trong lãnh đạo. Tuy nhiên, do đặc thù chung của Tổ chức trong 1 thời gian khá dài như trên chúng ta đã mất đi khá nhiều HT vừa có tâm huyết, vừa vững về nội điển, tổ chức, sinh hoạt… nên hàng ngũ HT chúng ta hiện tại còn nhiều bất cập. Tuy vẫn được tham dự các lớp tu học thường kỳ, vẫn được tham gia các trại huấn luyện nhưng nhìn chung khả năng của anh em HT chúng ta vẫn chưa thể bắt kịp nhu cầu bức thiết hiện tại của Tổ chức và đất nước. Việc hướng dẫn cho Đoàn sinh  GĐPT về Phật Pháp nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng dễ dẫn đến sự nhàm chán của các em. Xác định rõ: Tổ chức GĐPT không phải là trường học thứ 2 (tuy là tổ chức Giáo dục) là phương cách tốt nhất để mỗi HT cầm Đoàn hay hướng dẫn các bậc học định hướng về bài hướng dẫn của mình một cách khái quát hơn và đem lại nhiều kết quả hơn.

Phân Ban Hướng Dẫn BRVT tập hợp những ý kiến của những nhà giáo dục, chư tôn đức, các tài liệu trước đây của GĐPT.VN thành 1 tài liệu nhằm giúp cho HT chúng ta có thêm tư liệu để nghiên cứu trong quá trình hướng dẫn các em đoàn sinh tu học Phật Pháp. Trong quá trình thực hiện, có thể có những vấn đề mà người viết chưa thực hiện tốt, mong nhận được sự góp ý của quý anh chị HT để chúng ta sửa chửa - bổ sung hoàn thiện hơn.

B. NỘI DUNG

I. TÂM LÝ NGÀNH THIẾU VÀ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC

1/ Các bước phát triển tư duy con người

Vào năm 1956, Benjamin Bloom đã viết cuốn Phân loại tư duy theo những mục tiêu giáo dục: Lĩnh vực nhận thức. Trong đó phần mô tả về tư duy gồm sáu mức độ của ông đã được chấp nhận rộng rãi và được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực cho tới ngày nay. Danh mục những quá trình nhận thức của ông được sắp xếp từ mức độ đơn giản nhất: gợi lại kiến thức; đến mức độ phức tạp nhất: đánh giá giá trị và tính hữu ích của một ý kiến. Lĩnh vực nhận thức (tư duy) liên quan đến các mục đích về kiến thức và các kĩ năng trí tuệ, bao gồm 6 mức độ sau đây:

Nhớ (biết): Được định nghĩa là sự nhớ lại các dữ liệu đã học được trước đây. Điều đó có nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết. Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh vực nhận thức.

Thông hiểu: Được định nghĩa là khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu. Điều đó có thể thể hiện bằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sang dạng khác (từ các từ sang số liệu), bằng cách giải thích tài liệu (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng). Kết quả học tập ở cấp độ này cao hơn so với nhớ, và là mức thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật.

Vận dụng: Được định nghĩa là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một hoàn cảnh cụ thể mới. Điều đó có thể bao gồm việc áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết. Kết quả học tập trong lĩnh vực này đòi hỏi cấp độ thấu hiểu cao hơn so với cấp độ hiểu trên đây.

Phân tích: Được định nghĩa là khả năng phân chia một tài liệu ra thành các phần của nó sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó. Điều đó có thể bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích môí quan hệ giữa các bộ phận, và nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm. Kết quả học tập ở đây thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng vì nó đòi hỏi một sự thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu.

Tổng hợp: Được định nghĩa là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình thành một tổng thể mới. Điều đó có thể bao gồm việc tạo ra một cuộc giao tiếp đơn nhất (chủ đề hoặc bài phát biểu), một kế hoạch hành động (dự án nghiên cứu), hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ để phân lớp thông tin). Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh các hành vi sáng tạo, đặc biệt tập trung chủ yếu vào việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới.

Đánh giá: Được định nghĩa là khả năng xác định giá trị của tài liệu (Tiểu luận, bài khảo sát năng lực, báo cáo nghiên cứu…). Việc đánh giá dựa trên các tiêu chí nhất định. Đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí. Kết quả học tập trong lĩnh vực này là cao nhất trong các cấp bậc nhận thức vì nó chứa các yếu tố của mọi cấp bậc khác.

Người ta đã cố gắng phân chia mỗi mức độ kể trên thành hai ba thang bậc chi tiết hơn và cho đến nay riêng trong lĩnh vực nhận thức ở trình độ cấp cao có đến 15 thang bậc.
Phân loại tư duy của Bloom theo mục tiêu giáo dục (Truyền thống)

Kĩ năng Khái niệm Mức độ thể hiện
Biết Nhớ lại thông tin Xác định, miêu tả, gọi tên, phân loại, nhận biết, mô phỏng, làm theo
Hiểu Hiểu nghĩa, diễn giải khái niệm Tóm tắt lại, biến đổi, biện hộ, giải thích, lĩnh hội, lấy ví dụ
Vận dụng Sử dụng thông tin hay khái niệm trong tình huống mới Thiết lập, thực hiện, tạo dựng, mô phỏng, dự đoán, chuẩn bị
Phân tích Chia nhỏ thông tin và khái niệm thành những phần nhỏ hơn để hiểu đầy đủ hơn So sánh/đối chiếu, phân chia, phân biệt, lựa chọn, phân tách
Tổng hợp Ghép các ý với nhau để tạo nên nội dung mới Phân loại, khái quát hoá, cấu trúc lại
Đánh giá Đánh giá chất lượng Đánh giá, phê bình, phán đoán, chứng minh, tranh luận, biện hộ.

Ngoài cách đánh giá tư duy con người theo các mức độ 6 nhận thức trên còn có những cách đánh giá khác (xem phụ lục)
Ở chương trình tu học chung cho cả 2 ngành Oanh - Thiếu chúng ta chú trọng đến 3 bước phát triển năng lực tư duy đầu tiên của con người là : Biết - Hiểu và vận dụng (Thực sự, việc áp dụng 3 mức phát triển đầu tiên không có tính chất rõ ràng, cụ thể, một số bài học các em vẫn phát triển ở các mức độ tư duy cao hơn nhưng chỉ mới ở giai đoạn khởi đầu). Với ngành Thanh và HT các mức độ cao hơn sẽ được áp dụng vào việc tự học hoặc hoạch định 1 vấn đề nào đó. Nhất là với hàng ngủ HT đang có những bước đổi mới trong việc thực hiện các đề tài hay tiểu luận kết khoá.

Căn cứ vào tài liệu Phật Pháp được biên soạn cho các Ngành Thiếu và ngành Đồng trong Phân Ban cũng như sự hướng dẫn của các anh chị Trưởng trong các kỳ tham gia Trại huấn luyện người viết ghi nhận một tỷ lệ (gần đúng) như sau:

Với ngành Đồng: tỷ lệ Biết - Hiểu - Vận dụng là 40 - 40 - 20
Với ngành Thiếu: tỷ lệ Biết - Hiểu - Vận dụng là 30 - 40 - 30
2/ Tâm lý chia ngành (bậc)

Do đặc thù riêng, Tổ chức GĐPT phân chia thành 3 ngành theo lứa tuổi, hoặc 2 ngành theo giới tính. Trong phạm vi bài này xin phân tích vấn đề tâm lý cần được lưu ý để thích hợp với từng lứa tuổi khi giảng dạy.

Các nhận định chung về Tâm – Sinh lý lứa tuổi: (Theo tài liệu Nghiên huấn của các Trại Huấn luyện HT)

Oanh vũ: ngây thơ, yếu ơt, thiếu kiên nhẫn, chưa biết suy nghĩ, dễ tin, lệ thuộc vào tình cảm, thích thực hành...Tránh lối giảng dạy có tính cách từ chương, giáo khoa. Phải thực hành ngay.
Thiếu - Thanh: Tuổi dậy thì, cơ thể đổi thay đưa đến khủng hoảng tâm lý, dễ đam mê tình cảm, thắc mắc, lý luận, hiếu kỳ, nghiên cứu, tự cao, mơ mộng...Nên hướng dẫn các em tuổi này dưới hình thức hội thảo, nghiên cứu tìm học.

II- PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN PHẬT PHÁP CHO NGÀNH THIẾU:

Bốn phương pháp trong Gia đình Phật tử mang tính lý luận xuyên suốt cho các môn học trong GĐPT:

Phương pháp quán niệm                 Phương pháp lý giải
Phương pháp huân tập                    Phương pháp hoạt động

Phương pháp huân tập và quán niệm thường sử dụng trong việc thực tập chánh niệm và tu tập tự thân. Trong quá trình hướng dẫn các đề tài Phật Pháp người Huynh trưởng thường sử dụng 2 phương pháp lý giải và hoạt động tương tự như các phương pháp diễn giảng, thuyết trình, gợi mở vấn đáp, nêu vấn đề, trực quan, thảo luận nhóm, tổ,...


1/ Những vấn đề then chốt khi hướng dẫn 1 bài Phật Pháp:
* Cần phải khế lý và khế cơ:
a) Khế lý là đúng với chơn lý, chánh pháp: những bài dạy không được sai Phật Pháp. Người dạy cần phải nghiên cứu nhiều, học hỏi nhiều. Chúng ta nên hiểu các em thông minh, nhận xét giỏi, hay hỏi nhiều câu thắc mắc, người dạy đạo Phật phải biết trả lời thông suốt để khỏi mất uy tín và làm thỏa mãn sự đòi hỏi nghiên cứu. Vì đạo Phật mênh mông như biển cả, căn cơ các em khó dò như bể sâu. Có học nhiều, nghiên cứu nhiều mới tạm xứng đáng dạy các em về Phật Pháp.

b) Khế cơ nghĩa là hợp tánh tình, căn cơ các em: Tánh tình các em Thiếu nam, Thiếu nữ trái hẳn nhau, cách dạy đạo Phật không thể nhất luật được. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng trong 5 hạnh : Tinh tấn, Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí tuệ, Từ bi các em Thiếu nam phần đông thích hạnh Tinh tấn, còn các em Thiếu nữ chỉ thích hạnh Từ bi. Nhưng các Thiếu nam, Thiếu nữ thích hạnh Hỷ xả ngang nhau. Sự nhận xét trên cho chúng ta thấy rõ các em Thiếu nam nghiêng về hoạt động , thích phấn đấu lấn lướt hơn người;  các em Thiếu nữ nghiêng về tịnh, nhiều tình cảm và lòng thương, nhưng cả Thiếu nam, Thiếu nữ đều thích vui vẻ Hỷ xả. Tuổi các em là tuổi của nụ cười, tuổi của muôn hoa. Lại riêng trong hàng Thiếu nam hay Thiếu nữ, tâm trạng của các em rất phức tạp, tánh tình lại có thể thay đổi tùy theo tuổi, tùy theo sức học, tùy theo hoàn cảnh, người dạy Phập pháp phải tùy theo căn tánh mà dạy, chỉ bày hợp với căn cơ với từng tánh tình. Ðừng ham dạy nhiều, cần dạy ít nhưng phải hợp với tâm lý của các em.
 * Chọn khung cảnh và thời gian phù hợp: 

a) Thì giờ.- Các em Thiếu niên bậc Trung Thiện trở xuống thì chỉ dạy nửa giờ, các em bậc Chánh Thiện có thể dạy 45 phút hay một giờ, nên học Phật Pháp vào giờ đầu tiên sau khoá lễ.

b) An tịnh.- Ðừng cho các em chơi những trò chơi mạnh trước giờ Phật Pháp và lựa những chỗ thanh tịnh mà dạy.

c) Khung cảnh.- Nên sắp các em ngồi vòng tròn để người dạy có thể nhìn khắp các em. Ðừng sắp như lớp học vì khêu gợi các em hình ảnh một nhà trường thứ hai. Rất có thể tổ chức những lớp học ngoài trời, dưới những cây cổ thụ có bóng mát.

d) Nên dạy Thiếu nam, Thiếu nữ riêng.- Nếu có đủ người dạy, nên dạy Thiếu nam, Thiếu nữ riêng. Tuy cũng một bài Phật Pháp, nhưng dạy bên nam bên nữ khác nhau. Ví dụ như trong một câu chuyện kể cho các em, nếu là Thiếu nữ thì phải lựa những chuyện thiên về Từ bi, thiên về tình cảm; nếu là Thiếu nam thời phải lựa những chuyện hùng lực, những cử chỉ siêu phàm. Lại các em Thiếu nữ thiên về lòng tin và sự tịnh nhiều, các em Thiếu nam thời thiên về lý trí và ưng hoạt động nhiều, nên dạy Phật Pháp phải khác nhau.


Cho nên muốn buổi học Phật Pháp thiết thực có lợi ích cần phải dạy riêng Thiếu niên, Thiếu nữ; Điều này có thể có nhiều khó khăn, nhất là ở các đơn vị đang thiếu HT. Nếu phải dạy chung, chúng ta cần khéo léo lồng ghép cả 2 yếu tố sao cho cả 2 ngành đều không cảm thấy nhàm chán.
* Những vấn đề phải tránh :
1.- Không nên bắt các em tin một cách mù quáng - Ðạo Phật rất tôn trọng lý trí. Bắt các em nhắm mắt tin suông, tìn mù quáng, tức là trái với chơn tình thần đạo Phật. Vẫn biết tuổi các em còn nhỏ chỉ biết tin mà thôi, nhưng lòng tin ấy phải được sự lý giải khai sáng.

2.- Không nên nhồi sọ các em - Nhồi sọ là chồng chất bài nầy trên bài khác, không để các em có thời giờ suy nghiệm, thâm nhập; các bài Phật Pháp vô tình đã trở thành những món ăn tinh thần khó tiêu và vô tình chúng ta đã đè nén bộ óc non nớt của các em. Ðạo Phật chỉ khác tôn giáo, các chủ nghĩa khác; là ở nơi sự kính trọng quyền nhận xét cá nhân, tự do tư tưởng phát triển lý trí.

3.- Không nên sử dụng quá nhiều danh ngôn, từ ngữ chuyên ngành phải chú trọng thật hành- Có thực hành các em thật mới hiểu Phật Pháp, các em có ăn chay mới hiểu ích lợi của ăn chay, có niệm Phật mới hiểu sự ích lợi của niệm Phật. Muốn đào tạo các em thành những Phật tử chân chánh phải bày cho các em thực hành ngay đời sống trong hằng ngày của các em các hạnh Tinh tấn, Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí tuệ và Từ bi. Sự thực hành đi đôi với sự lý giải mới giúp các em sống đúng chơn tinh thần đạo Phật.

4.- Không nói suông, phải tự mình làm gương cho các em - Dạy các em ăn chay, người dạy phải ăn chay, dạy các em niệm Phật người dạy phải niệm Phật, dạy các em Tinh tấn, Hỷ xả v.v. . . người dạy phải Tinh tấn, Hỷ xả . . . Chính đời sống của người dạy Phật Pháp rất có ảnh hưởng đến đời sống của các em, vì các em thường noi gương người lớn. Những sở hành của người dạy có phù hợp với những lời dạy mới mong các em bắt chước thực hành theo. Và chỉ có vậy, sự giảng giải Phật Pháp mới đem đến cho các em những kết quả thiết thật lợi ích.
5.-  Không đi ngược với những tánh tình trong đẹp của các em - Dạy cho các em quá nhiều nổi đau khổ của cuộc đời, trình bày một cách quá sống sượng có thể làm cho các em mất tin tưởng, phát sinh hoài nghi và chán nản; như vậy là đầu độc tinh thần của các em và phản ngược với tánh tình vui vẻ của tuổi trẻ. Dạy cho các em chớ nên tà dục, chớ nên uống rượu, nói cho các em rõ những tâm niệm độc ác của con người tức đã vô tình làm hoen ố tâm hồn trong sạch, hồn nhiên của các em và phạm một điều tối kỵ trong nghệ thuật giáo dục; vì rằng các em chưa đến tuổi nghĩ đến những sự tà dục, những sự uống rượu v.v. . . mà nay nhắc các em đừng nên tà dục, đừng nên uống rượu v.v. . . tức vô tình gợi cho các em nghĩ đến những điều ấy và vô tình làm những tà niệm xen lẫn trong tâm hồn trong trắng của tuổi trẻ
2/ Chuẩn bị một bài hướng dẫn Phật Pháp:
Tài liệu để giảng bài thì chung, hiện tại cả HT và đoàn sinh đều sử dụng chung 1 bộ tài liệu thống nhất. Tuy nhiên bài soạn chỉ là cái sườn, nói làm sao cho các em hiểu anh chị trưởng muốn truyền đạt cái gì, áp dụng như thế nào vào đời sống hằng ngày, v.v... mới là quan trọng. Ngoài ra, người HT đó phải có “ngôn ngữ” hợp thời đại, giản dị và dễ hiểu chừng nào thì quí chừng đó chứ không phải đem tài liệu “nguyên xi” ra trao cho các em! Nội dung Phật pháp là một; nhưng phương pháp giảng dạy, truyền đạt, mỗi người một kiểu, miễn sao nội dung truyền đạt phải giống nhau, không mâu thuẫn với nhau là đượcĐể 1 giờ học Phật pháp của đoàn sinh ngành Thiếu đạt được kết quả tốt, người HT hướng dẫn cần chú ý các vấn đề sau:
a) Xác định nội dung tâm lý đối tượng: nội dung đây là nội dung của tâm lý đối tựợng không phải nội dung bài giảng. Trong bài viết này chúng ta xác định rõ là Huynh trưởng GĐPT hướng dẫn Phật Pháp cho các em ngành Thiếu đòi hỏi những cách ứng xử khác nhau để thích hợp cũng như để thành công trong việc truyền đạt.

b)  Phong cách tư duy và ngôn ngữ: giúp chúng ta chuyển tải nội dung giáo lý ấy hay vấn đề ấy; phong cách này biểu hiện qua khả năng phân tích và lý luận, biện giải vấn đề một cách thông suốt nhạy bén, sắc sảo. Phong cách này ở đây được gọi chung là Tứ vô ngại giải mà trình độ thành tựu khác nhau tùy theo quá trình tu tập, rèn luyện.
·        Pháp vô ngại giải: đây là khả năng nắm bắt, phán đoán, lảnh hội một cách nhạy bén, vận dụng một cách thông suốt, tự tại các từ ngữ chuyên môn,… của một sự kiện hay một chủ đề giáo lý
·        Nghĩa vô ngại giải: khả năng thông suốt, nhạy bén đối với nội hàm của các từ ngữ; tất nhiên từ ngữ phải tương xứng với trình độ, tập quán ngôn ngữ, và nhận thức của người nghe
·        Từ vô ngại giải: thông thạo ngôn ngữ địa phương của thính chúng; nói năng lưu loát truyền cảm và đừng quên sự truyền cảm của tiếng mẹ đẻ là điều đã được chứng minh rất nhiều qua các sáng tác văn học.
·        Biện vô ngại giải: còn gọi là lạc thuyết  hay  nhạo thuyết vô ngại giải; đây là khả năng “biện tài vô ngại,” diễn đạt, biện luận khúc chiếc rành mạch. Khả năng này do trí tuệ của diễn giả, trình độ tập trung tư tưởng và y cứ trên định tuệ, diễn giả trả lời, đối đáp trôi chảy với những câu hỏi vấn nạn, làm nguời nghe hứng thú vì hiểu rõ những vấn đề.

c) Lựa chọn phương pháp hướng dẫn theo từng bài:Như trên đã trình bày, trong quá trình hướng dẫn các đề tài Phật Pháp người Huynh trưởng thường sử dụng 2 phương pháp lý giải và hoạt động tương tự như các phương pháp diễn giảng, thuyết trình, gợi mở vấn đáp, nêu vấn đề, trực quan, thảo luận đội, chúng v.v.. Việc chọn lựa phương pháp nào trong từng bài học không có 1 khuôn mẫu nhất định mà tuỳ thuộc vào khả năng của từng HT, từng không gian hoạt động…
* Phương pháp giáo dục là cách thức tác động của nhà giáo dục đến người được giáo dục thông qua việc tổ chức một cách hợp lý về mặt sư phạm những hoạt động và giao lưu của người nghe nhằm hình thành ý thức, bồi dưỡng tình cảm, rèn luyện kỹ xảo và thói quen hành vi nhân cách của họ.
Phương pháp giáo dục có quan hệ với phương tiện giáo dục và hình thức tổ chức giáo dục. Phương tiện giáo dục bao gồm các loại hình hoạt động khác nhau của đoàn sinh cũng như các vật thể và sản phẩm văn hoá vật chất và tinh thần được sử dụng trong quá trình giáo dục.
Có ba nhóm phương pháp giáo dục chính: các phương pháp tổ chức hoạt động xã hội và hình thành kinh nghiệm ứng xử; Nhóm các phương pháp hình thành ý thức (khái niệm, phán đoán, niềm tin) cá nhân; Nhóm các phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh ứng xử. Với một bài học Phật Pháp chúng ta chú ý nhiều đến nhóm thứ 2. Trong việc sử dụng Phương pháp hướng dẫn ở nhóm thứ 2 có những phương cách giáo dục sau:
c.1 Phương pháp đàm thoại:Phương pháp này thể hiện ở chỗ HT và đoàn sinh trò chuyện với nhau, trao đổi ý kiến với nhau về một câu chuyện, vấn đề nào đó nhằm giáo dục đoàn sinh. Nhiệm vụ cơ bản của đàm thoại là lôi cuốn đoàn sinh vào phân tích và đánh giá các sự kiện, hành vi, hiện tượng trong bài học. Trên cơ sở đó hình thành cho họ thái độ đúng đắn với hiện thực xung quanh, đối với trách nhiệm đoàn sinh, trách nhiệm đạo đức của các em. Chủ đề các vấn đề đàm thoại càng gần với những kinh nghiệm bản thân đoàn sinh thì càng có sức thuyết phục.
Về việc tổ chức các buổi đàm thoại cần phải chuẩn bị chu đáo các câu chuyện để đàm thoại. Đề tài đàm thoại được thông báo trước để đoàn sinh chuẩn bị trước. Cần làm cho họ thấy được tầm quan trọng của đề tài đối với cuộc sống của các em, chứ không phải điều Huynh trưởng nghĩ ra để bắt các em trao đổi ý kiến. Mở đầu đàm thoại, Huynh trưởng cung cấp cho các em tài liệu và đặt ra những câu hỏi để các em thảo luận. Sau đó, khuyến khích, thúc đẩy các em mạnh dạn và tự do trình bày những ý nghĩ, những luận cứ, kết luận của mình. Huynh trưởng cần ít nói song cần chia sẻ những băn khoăn, kinh ngạc, vui mừng, tức giận với đoàn sinh khi các em phát biểu. Cuối giờ, Huynh trưởng tổng kết, nêu rõ những quan điểm, giải pháp, kết luận đúng đắn và gợi hướng hành động của tập thể và cá nhân để cùng có kết quả cuộc đàm thoại.
Về hình thức đàm thoại: Có hai cách thức: Đàm thoại giữa Huynh trưởng với tập thể đoàn sinh và đàm thoại giữa Huynh trưởng với một hoặc vài đoàn sinh. Trong khi đàm thoại, Huynh trưởng cần giữ đúng thái độ tôn trọng chân thành, thương yêu trong quan hệ anh em. Khi sử dụng phương pháp này cần chú ý tới đặc điểm lứa tuổi và cá nhân của đoàn sinh.
c.2 Phương pháp diễn giảng: Diễn giảng là trình bày một cách có hệ thống, mạch lạc, tương đối hoàn chỉnh bản chất của một vấn đề chính trị- xã hội, đạo đức, thẩm mỹ. Trung tâm lôgic của diễn giảng là sự khái quát lý luận về một lĩnh vực ý thức, khoa học. Các sự kiện cụ thể chỉ đóng vai trò minh hoạ hoặc là yếu tố xuất phát để tiến hành diễn giảng. Để nâng cao hiệu quả tác động về mặt nhận thức, xúc cảm của phương pháp diễn giảng cần đảm bảo tính thuyết phục của các luận chứng, tính hệ thống chặt chẽ của cấu trúc nội dung, tính chân thực của tình cảm, thái độ của người diễn giảng, tính sống động của ngôn từ được dùng khi diễn giảng. Qua diễn giảng cần giúp họ đi sâu vào việc nhận thức bản chất của các vấn đề được đề cập tới.

c.3 Phương pháp tranh luận: Đó là phương pháp hình thành cho đoàn sinh những phán đoán, đánh giá và niềm tin dựa trên sự va chạm các ý kiến, các quan điểm khác nhau. Nhờ đó nâng cao được tính khái quát, tính vững vàng và tính mềm dẻo của các tri thức thu nhận được. Tranh luận không yêu cầu phải đi đến giải pháp cuối cùng, những kết luận dứt khoát. Tranh luận giúp cho đoàn sinh những cơ hội phân tích các khái niệm về các lý do bảo vệ các quan điểm, niềm tin và thuyết phục những người khác tin vào những quan điểm đó.

Trong khi tranh luận đoàn sinh không chỉ phát biểu những ý kiến của mình mà còn phát hiện những điểm mạnh, điểm yếu trong những phán đoán của người khác. Tìm và chọn các luận chứng để bác bỏ những sai lầm và khẳng định những chân lý. Tranh luận đòi hỏi những người tham gia phải dũng cảm từ bỏ những quan điểm không đúng và chấp nhận những quan điểm đúng đắn. Những vấn đề đưa ra tranh luận phải có ý nghĩa thiết yếu đối với cuộc sống của đoàn sinh, phải thực sự làm cho các em băn khoăn suy nghĩ, xúc động và do đó thúc đẩy các em tham gia trao đổi ý kiến.

Huynh trưởng cũng như đoàn sinh phải chuẩn bị chu đáo cho cuộc tranh luận. Các vấn đề tranh luận cần phân công cho đoàn sinh chuẩn bị trước. Trong khi tranh luận cần phải đảm bảo tự do tư tưởng. Huynh trưởng không nên can thiệp thô bạo, vội vã phê phán những quan điểm sai của đoàn sinh, bắt các em chấp nhận những quan điểm của mình. Trái lại, cần phải tế nhị, chân thành, trầm tĩnh, biết hài hước nhưng không xúc phạm đến nhân phẩm của các em.

c.4 Phương pháp nêu gương: Đó là phương pháp nêu lên những gương điển hình, những mẫu mực cụ thể, sống động để đoàn sinh bắt chước, làm theo những tấm gương đó.

Điều đó phù hợp với tâm lý của trẻ là hay bắt chước. Song bắt chước không phải là sao chép một cách mù quáng, máy móc. Thông qua bắt chước các em vẫn có những hành động mới mẻ, đúng đắn, phù hợp với phương hướng chung của lý tưởng, vừa có hoạt động độc đáo, gần gũi với những tư tưởng chủ đạo của tấm gương mà các em bắt chước.

+ Hoạt động bắt chước của trẻ thường:
- Từ bắt chước các mẫu mực gần gũi đến bắt chước các mẫu mực xa.
- Từ chỗ bắt chước một cách vô ý thức đến chỗ bắt chước một cách chủ động.
- Từ chỗ sao chép toàn bộ hình tượng hành vi ứng xử đến chỗ chỉ mượn một số nét riêng rẽ.
- Từ chỗ bắt chước trong trò chơi đến chỗ bắt chước trong cuộc sống.
- Từ chỗ bắt chước vẻ bề ngoài (dáng điệu, cử chỉ) đến bắt chước những phẩm chất bên trong của nhân cách.
Tính chất bắt chước tuỳ theo lứa tuổi, sự mở rộng kinh nghiệm và trình độ phát triển về trí tuệ và đạo đức của họ.

Có thể phân biệt ba giai đoạn của cơ chế bắt chước: Ở giai đoạn đầu hành động cụ thể của người khác làm nảy sinh ở đoàn sinh hình ảnh chủ quan về hành động đó và lòng ham muốn hành động như thế. Ở giai đoạn thứ hai, mối liên hệ tấm gương cần bắt chước với những hành động kế tiếp mới được thiết lập. Ở giai đoạn ba, các hành động bắt chước và các hành động độc lập mới tổng hợp lại được nhờ ảnh hưởng tích cực của các tình huống nảy sinh trong cuộc sống và các tình huống giáo dục tạo ra.

Những tấm gương mà đoàn sinh thường bắt chước là những tấm gương thường ở xung quanh họ, ở nhà, ở trường, ở chùa. Đó là những tấm gương của những người thân trong gia đình, bạn bè, đặc biệt là của các anh chị Huynh trưởng, các vị Tăng - Ni, những nhân vật tích cực trong lịch sử, trong văn học, những anh hùng chiến đấu, trong sản xuất, những danh nhân văn hoá và khoa học. (Hiện tại đoàn sinh ngành Thiếu đang rơi vào một thái cực khó nhận định : bắt chước các ngôi sao ca nhạc, phim ảnh. Tuy nhiên, vấn đề này chúng ta khoan vội phê phán các em, bởi lẽ chỉ sau 1 thời gian ngắn việc này sẽ bị đào thải bởi bản thân sự việc không có tính vững bền)

3/Các lý thuyết hổ trợ cho việc hướng dẫn Phật Pháp:
* Mỗi vấn đề có bản chất lý luận riêng, Xác định được vấn đề thuộc loại nào, chúng ta có thể giúp người nghe có cơ sở lý luận để lãnh hội dễ dàng hơn; có 4 chiều hướng để đặt vấn đề (và phân tích vấn đề):

a. Nhất hướng: ví dụ đề tài “Mọi người đều phải chết” vấn đề hiển nhiên, không cần bàn cãi.
b. Phân biệt: Ví dụ đề tài “Sau khi chết, cái gì đi tái sinh?”: tùy theo tín ngưỡng tôn giáo, câu trả lời khác nhau và cơ sở lý luận là dựa vào giáo lý của tôn giáo ấy.
c. Cật vấn: ví dụ đề tài “Địa vị con nguời trong Đạo Phật là cao hay thấp?” không thể trả lời dứt khoát vì phải biết đặt con người trong những tương quan khác nhau (Trời, A Tu La, Súc sanh v..v..)
d. Xả Trí: ví dụ đề tài “Thế giới này hữu hạn hay vô hạn” Câu hỏi này vượt quá trí tuệ loài người, cũng có thể là một vấn đề siêu hình hay khoa học… nhưng thấy trước không thể vượt qua được vì không có cơ sở chung (trình độ về khoa học, về tôn giáo, sự khác biệt tín nguỡng, văn hoá…) cho nên nếu tranh luận hay lý luận đều không có lối thoát; những vấn đề này phải gác qua một bên.

Bốn trường hợp trên được coi là bản chất của đề tài/vấn đề được thảo luận. Bản chất ấy có khi khách quan, có khi chủ quan, có nghĩa là một số vấn đề được coi là nhất hướng, cật vấn hay xả trí… còn tùy thuộc nhận thức chủ quan của người nghe cũng như tùy thuộc vào cơ sở tư tưởng và ngôn ngữ đồng hay bất đồng giữa diễn giả và thính chúng. Vì vậy đôi khi để tránh cho buổi hướng dẫn khỏi bị dẫn đến tranh luận không lối thoát, Huynh trưởng cần xác định đề tài sẽ được trình bày thuộc trường hợp nào trong 4 trường hợp trên.

*  Quan sát đối tượng: có 4 phương diện để nhận định đối tượng nghe có dễ dàng chấp nhận, lảnh hội  những điều Huynh trưởng sẽ nói hay không.

1. Xứ/phi xứ: phán đoán các trường hợp: nên làm hay không nên làm; sự việc có thể xảy ra hay không thể xảy ra; vấn đề có kết luận hợp lý hay không hợp lý. Trình độ phán đoán của đối tượng tùy thuộc nhiều yếu tố như tuổi tác, sự phát triễn của trí tuệ, học lực, thành phần xã hội, tín nguỡng, tôn giáo, truyền thống và những điều kiện môi trường sinh hoạt nữa…

2. Thuyết Dụ: trong khi thuyết giảng, diễn giả hay dùng những giả thuyết, những thí dụ đề minh hoạ. Thuyết dụ là trình độ liên tưởng, khả năng lảnh hội những thí dụ, những giả thuyết v..v.. được sử dụng. Một ví dụ thông thường như nói “Phật như là sư tử giữa loài người hay tiếng của Phật là tiếng sư tử hống…” thính chúng có trình độ hiểu ngay phạm vi của thí dụ, mà không nhầm lẫn hiểu rằng Phật là một con sư tử.

3. Sở tri: trình độ phán đoán của người nghe đối với vấn đề được trình bày; trình độ cần thiết để người nghe có thể phân biệt được trong những điều mình nghe, cái gì thuộc thế gian, cái gì thuộc xuất thế gian, cái gì thuộc kinh nghiệm người đời, cái gì thuộc sở tri, sở chứng của bậc Thánh…

4. Đạo tích: khả năng phán đoán xem vấn đề được trình bày có liên hệ hay không liên hệ với sự tu tập. Mỗi vấn đề đều có khía cạnh áp dụng thực tiễn của nó. Những gì chỉ là lý thuyết suông phải được xem là không có nội dung của chân lý. Một thính giả nếu sau khi nghe xong một vấn đề mà không biết vấn đề ấy có thể áp dụng thực tế hay không thì rõ ràng người ấy chưa lảnh hội được vấn đề. Khả năng này tùy thuộc kinh nghiệm tu tập của người nghe cho nên người nghe chỉ có thể nắm bắt nhạy bén và thông suốt đề tài nào mình từng hành trí / rèn luyện, chứ không phải tùy thuộc đề tài mình đã nghe nhiều lần.


C. KẾT LUẬN

Tài liệu này, nhằm cung cấp 1 cách khái quát và chung nhất về các Phương pháp hướng dẫn Phật Pháp cho ngành Thiếu. Chủ đề không đi sâu vào nội dung phân tích các bài học được đưa ra. Bản thân người viết cũng chỉ có ước vọng cung cấp thêm cho quý anh chị HT trong tỉnh nắm rõ hơn về các Phương Pháp giáo dục hiện tại và việc áp dụng tại đơn vị. Phương pháp thì chung, đặc điểm đơn vị và cá nhân đoàn sinh thì riêng lẻ, do vậy sẽ không có 1 phương pháp nào ưu việt nhất trong từng bài học. Vấn đề này tuỳ thuộc và khả năng của từng Huynh trưởng phụ trách tuỳ từng thời điểm và không gian. Hy vọng nó sẽ có ích cho quý anh chị Huynh trưởng chúng ta. Người viết mong nhận được sự góp ý của quý anh chị Huynh trưởng để hoàn thiện tài liệu này.

                                                                                       
Tác giả: Hoa Sơn Đỉnh

PHỤ LỤC
Các cách phân chia nhận thức khác:
Cảm xúc
Lĩnh vực cảm xúc liên quan đến các mục đích thuộc về hứng thú, các thái độgiá trị, bao gồm 5 mức độ sau đây:
1.  Tiếp thu (receiving):Nhạy cảm với một sự động viên khuyến khích nào đó và có một sự tự nguyện tiếp thu hoặc chú tâm vào đó.
2.  Đáp ứng (responding):Lôi cuốn vào một chủ đề hoặc hoạt động hoặc sự kiện để mở rộng việc tìm tòi nó, làm việc với nó và tham gia vào đó.
3. Hình thành giá trị (valuing):Cam kết tiến tới một sự vững tin vào các mục tiêu, tư tưởng và niềm tin nào đó.
4. Tổ chức (organisation):Tổ chức các giá trị thành một hệ thống, có sự nhận thức hoặc sự xác đáng và các mối quan hệ của các giá trị phù hợp, và xây dựng nên các giá trị cá nhân nổi bật.
5. Đặc trưng hoá bởi một tập hợp giá trị (characterization by a value complex): Tích hợp các niềm tin, tư tưởng và thái độ thành một triết lí tổng thể hoặc tầm nhìn rộng như thế giới quan.
Người ta đã cố gắng phân chia mỗi mức độ kể trên thành hai ba thang bậc chi tiết hơn, và cho đến nay riêng trong lĩnh vực cảm xúc có đến 13 thang bậc.
Tâm vận
Lĩnh vực tâm vận liên quan đến các kĩ năng thao tác chân tay dùng đến cơ bắp hoặc những sự đáp ứng vận động hoặc đòi hỏi có sự phối hợp giữa cơ bắp và hệ thần kinh, bao gồm 5 mức độ sau đây:
1. Bắt chước (imitation):Làm theo một hành động đã được quan sát nhưng thiếu sự phối hợp giữa cơ bắp và hệ thần kinh.
2. Thao tác (manipulation):Làm theo một hành động đã được quan sát thường theo sự chỉ dẫn, thể hiện một số sự phối hợp giữa cơ bắp và hệ thần kinh.
3. Làm chuẩn xác (precison): Thực hiện một hành động thể lực với sự chuẩn xác, cân đối và chính xác.
4. Liên kết (articulation):Thực hiện thành thạo một hành động thể lực có sự phối hợp của một loạt các hành động khác.
5. Tự nhiên hoá (naturalization):Biến một hành động thể lực thành công việc thường làm để mở rộng nó ra và làm cho nó trở thành một sự đáp ứng tự động, không gò bó và cuối cùng thành một sự đáp ứng thuộc về tiềm thức hay bản năng.
Hiện nay chưa tìm thấy một tài liệu phân chia tỉ mỉ các mức độ tâm vận thành các thang bậc tỉ mỉ hơn như ở hai lĩnh vực nhận thức và cảm xúc, có lẽ đó là vấn đề đang được nghiên cứu.
 

Thứ Hai, 13 tháng 5, 2013

Phương hướng phát triển mới của Gia đình Phật tử Việt Nam




1. Bối cảnh hình thành Gia Đình Phật Tử:
Từ thế kỷ thứ 19 sang đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp đã chia cắt nước ta làm ba miền để dễ cai trị. Triều đình nhà Nguyễn lại lo chấn hưng Nho học. Phật giáo bị lu mờ, bị xem là cổ hủ, tín đồ phần lớn chỉ lo việc cầu đạo, sa ngã vào tín ngưỡng hình thức thế tục. Trong khi đó, văn hóa Tây phương xâm lấn dần, được xem là trào lưu mới, văn minh. Thiên chúa giáo, với sự ủng hộ của thực dân đã phát triển mạnh, mang ý nghĩa tiến bộ, hợp thời.
Châu Á với truyền thống Phật giáo cũng lâm vào hoàn cảnh đó. Một số vị tôn túc thức thời đã tìm cách phục hưng Phật giáo vừa cho phù hợp với thời đại mới. Ở Tích Lan, Đại sư Dhammapala mở phong trào khôi phục truyền thống Phật giáo. Ở Trung Quốc, cư sĩ Dương Nhân Sơn lập Kỳ Hoàn tinh xá, triệu tập các nhà Phật học nghiên cứu các kinh sách bằng Hán, Anh, và Pa-li ngữ; Đại sư Thái Hư lập Học viện Vũ Xương đẩy mạnh việc chấn hưng Phật giáo. Các nước Myanmar, Sri Lanka, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan cũng nổi lên phong trào đổi mới Phật giáo.
Từ năm 1920 khắp ba miền của đất nước, nhiều vị tôn túc Phật giáo trí đức cao vời đã hô hào và mở đầu phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Ở miền Bắc có Đại sư Thanh Hanh giảng dạy Phật pháp thu hút đông đảo quần chúng Phật tử, ngài Đỗ Văn Hỷ ấn hành khá nhiều kinh sách Phật giáo; Ở miền Trung có các Đại sư Tuệ Pháp, Thanh Thái, Đắc Ân, Tâm Tịnh, Phước Huệ…  Ở miền Nam có các Đại sư Từ Phong, Khánh Hòa, Huệ Quang, Khánh Anh…  Chư vị đều là những tu sĩ nổi tiếng, thu hút được các giới Phật tử nhờ cách giảng dạy nghiêm túc, có phương pháp thiện xảo. Thế rồi từ  1930, 1932, 1935 các hội Phật học ở cả ba miền đã đươc thành lập, cải tiến hoạt động, song song với việc các kinh sách và tạp chí Phật giáo ngày một phổ biến nhiều, mang tính tân học Phật giáo.
Một phong trào có ảnh hưởng khá nhiều đến động cơ hình thành, cơ cấu tổ chức và phát triển của Gia đình Phật tử là tổ chức Hướng đạo sinh Việt Nam, một phát triển của Hướng đạo sinh Thế giới do Trung tướng người Anh Baden Powell đề xướng năm 1907 đã có hoạt động tại khá nhiều nơi trên thế giới. Năm 1930, phong trào này được du nhập vào Việt Nam do ông Trần Văn Khắc ở Hà Nội chủ xướng; chủ trương bổ sung giáo dục gia đình và học đường, giúp thanh thiếu niên rèn luyện tính khí, tháo vát, thích nghi với hoàn cảnh, trở thành công dân tốt, có trách nhiệm. Phong trào được sự tham gia tổ chức của các vị thời danh như Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Lưu Hữu Phước, Tôn Thất Tùng.
Nhân lễ Phật Đản năm Ất Hợi (10-05-1935) được Hội An Nam Phật học tổ chức tại Huế, hình ảnh 52 em nhỏ mặc đồng phục đã gợi lên ý tưởng thành lập một tổ chức cho thanh thiếu niên Phật tử. Cư sĩ Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, Chánh hội trưởng hội An Nam Phật học đã xây dựng ý tưởng này và đến năm 1940, đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục ra đời với sự hướng dẫn trực tiếp của Cư sĩ. Khởi đầu, đoàn gồm các vị như Phạm Hữu Bình (Trưởng đoàn), Đinh Văn Nam (Phó đoàn), Ngô Điền (Thư ký), Đinh Văn Vinh, Ngô Thừa, Võ Đình Cường. Đoàn lớn mạnh không ngừng; đến năm 1944, đổi tên thành Gia đình Phật hóa phổ. Đại hội Gia đình Phật hóa phổ tổ chức tại chùa Từ Đàm gồm các đại biểu ở chín tỉnh miền Trung diễn ra từ 24 đến 26-4-1951 và cải danhGia đình Phật hóa phổ thành Gia đình Phật tử Việt Nam. Cư sĩ Võ Đình Cường được cử làm Trưởng Ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử Tổng hội Trung phần.
Từ đó, Gia đình Phật tử Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Kể từ Đại hội toàn quốc năm 1953 tại Huế, Gia đình Phật tử tại Việt Nam do cư sĩ Tống Hồ Cầm làm Trưởng Ban Hướng dẫn đã mở rộng khắp miền Nam và mỗi gia đình đều có vị thầy Cố vấn Giáo lý. Tại Sài Gòn có quý ngài Thiện Hoa, Thiện Hòa, Thiền Định, Thanh Từ, Trí Hữu, Huyền Vi…
Trải qua cuộc đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo, các thành viên Gia đình Phật tử đã hy sinh thân mạng, bị tù đày tra tấn cho đến khi chính quyền phản động ấy bị lật đổ. Sau ngày thống nhất đất nước, Gia đình Phật tử đình trệ một thời gian ngắn rồi được Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận và được hoạt động trở lại. Ngày nay, Gia đình Phật tử đã có được 75.000 đoàn viên và huynh trưởng với 1.006 Gia đình tại 31 tỉnh thành trên ba miền đất nước.
 2. Những nhận định về quá trình hoạt động
Kể từ khi manh nha ý tưởng thành lập đến khi hình thành tổ chức và sau đó là hoạt động của Gia đình Phật tử, ta thấy sự phát triển mạnh mẽ của đoàn thể này. Ta có thể kể một số nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự phát triển của Gia đình Phật tử.
a. Trước hết là manh nha của ý tưởng sáng lập xuất phát từ lòng yêu nước, yêu đạo Phật, muốn xây dựng một xã hội hiền thiện, đào tạo những người Phật tử chân chính, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của Phật giáo và văn hóa nước nhà trước âm mưu thống trị, đồng hóa của thực dân xâm lược.
b. Thành phần lãnh đạo là chư Tôn đức, đạo hạnh, trí huệ cao vời và các cư sĩ tân học, thức thời đồng tâm hợp lực thực hiện lý tưởng Phật giáo, vì thế hệ trẻ rường cột của đất nước. Chư vị có tầm nhìn xa trông rộng, biết áp dụng trong tính sáng tạo các phương cách, nội dung sinh hoạt, tổ chức, phát triển của phong trào cải tiến Phật giáo trên thế giới, nhất là ở châu Á.
c. Nội dung sinh hoạt rất tốt, gây không khí tươi vui, hấp dẫn thanh thiếu niên, giới thiệu Phật giáo rất nhẹ nhàng trong khung cảnh ngôi chùa, các trò chơi, các buổi cắm trại, hoạt động văn nghệ… rất mới mẻ, phù hợp với tuổi trẻ. Chính cái mới, đứng đắn, thiết thực có sức hấp dẫn nhiều nhất.
d. Có tổ chức các nghành, các cấp, nhân sự chặt chẽ, từ vị thầy Cố vấn Giáo lý đến các huynh trưởng các cấp, đến bác Gia trưởng… đến mối liên hệ cấp gia đình, cấp quận huyện, tỉnh thành, địa phương và trung ương.
e. Cần nói thêm về sự mô phỏng và áp dụng sáng tạo của Gia đình Phật tử từ sinh hoạt của tổ chức Hướng đạo sinh. Chủ trương của hai bên đều gần như nhau, nhưng Gia đình Phật tử nhấn mạnh đến tính Phật giáo, tính Việt Nam. Do đó mà gia đình Phật tử phát triển mạnh, vượt hẳn Hướng đạo Việt Nam chỉ trong vòng 30 năm kể từ khi được thành lập.
3. Nhận định về tình hình hiện nay và góp ý về phương hướng phát triển mới
Trong bốn năm qua, kể từ khi Giáo hội chấp nhận Gia đình Phật tử là một phân ban của Ban Hướng dẫn Cư sĩ Phật tử, các hoạt động của Gia đình Phật tử có chuyển hướng tốt, mạnh mẽ, sinh động hơn rất nhiều. Các cuộc hội thảo, các trại huấn luyện, các công tác xã hội… nhiều hơn, có phẩm chất cao hơn, quy mô hơn so với trước.
Tuy vậy, so với những năm trước 1975 thì Gia đình Phật tử cũng không phát triển gì nhiều, và nhiều mặt công tác còn yếu hơn. Hãy xem tổng số huynh trưởng và đoàn viên hiện nay là 75.000 so với trước kia là 73.000; đây là hai con số xấp xỉ trong khi dân số nước ta tăng lên gấp đôi so với 40 năm trước đây. Một nguyên nhân chính trong việc Giáo hội PGVN chậm đánh giá tầm quan trọng của GĐPT là chính nhân sự hoạt động của GĐPT thiếu ổn định. Nghi kỵ, dèm pha, bất đồng ý kiến, chia rẽ… giữa các huynh trưởng về lập trường, về vị trí…
Nếu ta xét đến những nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự phát triển của Gia đình Phật tử trước kia và xét tình hình hiện nay thì thiết nghĩ cũng có thể rút ra được một số điểm quan trọng để đưa vào kế hoạch, chương trình hoạt động trong phương hướng sắp đến của GĐPT. Theo chúng tôi, sau đây là một số điểm chúng ta cần xét đến và cố gắng thực hiện cho được trong kế hoạch phát triển GĐPT.
a. Củng cố nhân sự: Trước hết là sự đoàn kết giữa các huynh trưởng các cấp vì lý tưởng của GĐPT, không phân biệt quan điểm, lập trường, người cũ, người mới. Người cũ đã lâu không hoạt động nay hoạt động trở lại là điều đáng quý.
Chư tôn lãnh đạo trong GĐPT cần tin tưởng, giúp đỡ các huynh trưởng hoạt động, các tích cực khuyến nghị Giáo hội lưu tâm nhiều hơn đến GĐPT, cần tham gia lập kế hoạch, cần có ý kiến sáng tạo, cần có trách nhiệm nhiều hơn đối với GĐPT.
Các huynh trưởng cần tuân phục, chân thành, gần gũi với chư tôn để được chỉ đạo, giúp đỡ trong công tác. Đối với đoàn sinh, phải chăm lo gần gũi nhiều hơn.
Cần có Ban Bảo trợ, Ban Cố vấn vững mạnh.
b. Cải tiến tổ chức, hành chánh: Từ nay cho đến hết nhiệm kỳ còn hơn một năm nữa, phân ban GĐPT TW cần vận động qua các hội thảo, lập kiến nghị… để đến kỳ Đại hội Đại biểu PG toàn quốc sắp đến có thể thông qua Hiến chương có sửa đổi, công nhận phân ban GĐPT là một ban chính thức chứ không phải thuộc Ban Hướng dẫn Phật tử vì nội dung sinh hoạt của GĐPT cần độc lập để có thể phát triển nhanh chóng.
GĐPT cần có Ban Bảo trợ vững mạnh để giúp các chi phí hoạt động. Tuy vậy, GĐPT cần phải có quỹ riêng bằng cách đề nghị các đoàn viên, huynh trưởng đóng nguyệt liễm (có thể theo quý), trung bình mỗi thành viên đóng lệ phí mỗi tháng khoảng 4.000 đồng. Mỗi Gia đình Phật tử giữ 50%, 25% đóng góp cho phân ban GĐPT tỉnh thành, 25% đóng cho Ban Hướng dẫn GĐPT TW. Với 75.000 thành viên, Ban GĐPT TW mỗi tháng có khoảng 75.000.000 đồng tiền quỹ. Để thực hiện điều này, quý Thầy cố vấn giáo lý và các huynh trưởng cần vận động đoàn sinh và gia đình các em thuận tình đóng góp khoản lệ phí ít oi ấy.
c. Cải tiến nội dung sinh hoạt: Sở dĩ GĐPT thu hút được thanh thiếu niên từ khi mới được thành lập là do có nội dung sinh hoạt lành mạnh, mới mẻ và cần thiết. Để phát triển GĐPT trong thời hội nhập, chúng ta cần tìm ra cái mới, cái bổ ích, phù hợp với thời đại và tránh xa những tiêu cực của thời đại.
Cần tăng cường sự thiết thực và hấp dẫn trong sinh hoạt: hình thức lễ lạy, tụng kinh, các kỹ năng chuyên môn, âm nhạc, kịch, thảo luận các đề tài nhỏ, thông thường về gia đình, học đường, xã hội…, các trò chơi, các cuộc cắm trại qua đó rèn luyện sự sáng tạo, tháo vát, tinh thần đồng đội, trách nhiệm… ở các em.
Một nội dung cần thiết được thực hiện mạnh mẽ hơn đó là tham gia các việc công ích, từ thiện xã hội. Hình ảnh GĐPT thật hiếm thấy trong các công tác này: Vệ sinh đường phố, trồng cây xanh, cứu trợ bão lụt, giúp người cơ nhỡ, tiếp sức mùa thi…
d. Tăng cường công tác đối ngoại: Tạo cho được mối liên kết giữa GĐPT tại VN với các GĐPT ở nước ngoài, vì lý tưởng GĐPT, vì Đạo pháp và dân tộc, tiến tới sự đoàn kết tương trợ.
Cần có sự liên kết chặt chẽ với các ban nghành trong Giáo hội để được hỗ trợ, chia xẻ công tác. Ví dụ: tham gia công tác xã hội với Ban Từ thiện Xã hội, đóng góp công sức vào các hoạt động, lễ lạc của Giáo hội trung ương, địa phương.
Đối với gia đình của các đoàn sinh, các huynh trưởng cố gắng có sự liên hệ chặt chẽ hơn để tìm hiểu các em, để được góp ý. Thỉnh thoảng tổ chức cuộc gặp mặt chung của phụ huynh các em, tạo không khí đầm ấm và sự ủng hộ mạnh mẽ hơn.
 4. Kết luận
Trên đây chỉ là một số ý kiến đóng góp cho việc phát triển Gia đình Phật tử. Chúng ta không quên lời nói tâm huyết của vị tiên phong trong việc thành lập GĐPT, Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám: “Không có một thành tựu bền vững nào lại không nhắm đến hàng ngũ thiếu niên, họ là những người nối tiếp chúng ta trong ngày mai.” Xây dựng một xã hội hiền thiện thấm nhuần tinh thần Phật giáo là mục đích của chúng ta. Xây dựng vững bền và phát triển đúng hướng GĐPT là vô cùng quan trọng.
ĐĐ. Thích Nguyên Thành - Phó Viện Trưởng Học viện PGVN tại Huế

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Mật Thư : Hệ thống tọa độ

( Sưu tầm)

Bài viết dưới đây sẽgiới thiệu đến các bạn hệ thống mật thư tọa độ và biến thể của nó thường gặp là mật thư Ma phương.
  
I. Mật thư hệ thống tọa độ là gì?Đây là một dạng mật thư theo dạng tọa độ (đồ thị)rất phong phú và đòi hỏi sự chính xác cao. Đồ thị là một tập các đối tượng gọilà đỉnh nối với nhau bởi các cạnh, một điểm được xác định chính xác khi đã đốichiếu bởi tung độ (chiều dọc) và hoành độ (chiều ngang) đã được biết trước.
Theo đó người ta sắp xếp các chữ cái (thường là25, bỏ Z) vào trong các ô chia đều các cạnh (mỗi cạnh 5 ô) trong một hình vuônglớn. Khi giải mã ta chỉ cần đối chiếu trục ngang và trục đứng là sẽ tìm ra đượcnội dung cần tìm.
 




Thứ Tư, 1 tháng 5, 2013

Y pháp bất y nhân


  Đây là một nguyên tắc đã được nêu ra khá sớm, ngay từ thời đức Phật còn tại thế. Trong giai đoạn hiện nay, nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong việc xác lập niềm tin vào Tam Bảo.
Thế nào là y pháp bất y nhân? Nói một cách đơn giản, đó là chúng ta đặt niềm tin và làm theo chính pháp và không tin theo bất cứ ai nói hoặc làm sai chính pháp.

Chính pháp do đức Phật truyền dạy, trước hết là những chân lý giúp ta nhận thức đúng về mọi sự việc, hiện tượng trong đời sống, và những nguyên tắc hay phương thức sống thiết thực, có thể vận dụng vào cuộc sống hằng ngày để đạt được những kết quả cụ thể trong việc hoàn thiện cuộc sống, làm giảm nhẹ và triệt tiêu những khổ đau vốn có trong đời sống. Những chân lý và nguyên tắc hay phương thức ấy được ghi chép trong kinh điển và được chư tăng giảng giải, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Nhưng một vấn đề không mong muốn có thể xảy ra, đó là có những người tự nhận rằng mình truyền dạy chính pháp của đức Phật, nhưng bản thân lại không có sự thực hành đúng theo chính pháp, và do đó cũng dẫn đến một hệ quả tất yếu là thường giảng giải sai lệch về chính pháp.

Trong trường hợp này, nguyên tắc y pháp bất y nhân có ý nghĩa giúp ta giữ vững được niềm tin vào chính pháp mà không để cho sự sai trái của một vài cá nhân nào đó làm ảnh hưởng đến niềm tin của mình. Bởi vì, những việc làm sai trái hoặc những lời giảng giải không đúng chính pháp của một cá nhân xét cho cùng chỉ là sự sai lầm của riêng cá nhân đó, không liên quan gì đến chính pháp do Phật truyền dạy.

Lấy một ví dụ đơn giản, như có người khuyên ta không nên uống rượu, nhưng bản thân người ấy lại sáng say chiều xỉn, không có được một cuộc sống nghiêm túc. Trong trường hợp này, chúng ta cần phân biệt hai khía cạnh tách biệt của vấn đề.

Trước hết, lời khuyên do người ấy đưa ra là một lời khuyên tốt, đáng để chúng ta nghe theo. Thứ hai, mặc dù tư cách của người ấy không xứng đáng chút nào với lời khuyên tốt đẹp mà ông ta đưa ra cho người khác, nhưng điều đó hoàn toàn không làm mất đi tính chất tốt đẹp của lời khuyên.

Vì vậy, trong trường hợp này, nghe theo lời khuyên của ông ta là y pháp, và không noi theo việc làm của ông ta là bất y nhân. Mặt khác, vì xét thấy lời khuyên của ông ta là đúng đắn, tốt đẹp nên chúng ta tin theo, như vậy là y pháp; dù tư cách của ông ta không xứng đáng với lời khuyên, nhưng chúng ta vẫn không để điều đó làm ảnh hưởng đến niềm tin của ta vào lời khuyên tốt đẹp ấy, như vậy là bất y nhân.

Trong môi trường sống khá phức tạp ngày nay, chúng ta không phải lúc nào cũng được tiếp xúc với những con người tốt đẹp, hướng thượng, mà còn có cả những con người nhỏ nhen, ích kỷ và nhận thức cũng như hành động đều sai lầm. Một đôi khi, những người này cũng đứng trong hàng ngũ truyền dạy giáo pháp của đức Phật.

Chúng ta không nên ghét bỏ, mà trái lại cần phải thương xót những con người tội nghiệp này, vì họ không thực hành theo đúng chính pháp của đức Phật nên chắc chắn là họ không thể có được một đời sống an lạc và hạnh phúc chân thật.

Tuy nhiên, chúng ta cần tỉnh táo nhận biết để không đặt niềm tin và làm theo những người như thế. Mặt khác, ta cũng không thể vì sự sai trái của những cá nhân ấy mà đánh mất niềm tin vào chính pháp, hay nói chung là vào Tam bảo.

Tất nhiên, một câu hỏi có thể được nêu ra ở đây là: làm thế nào để xác định được đâu là chính pháp do Phật truyền dạy và đâu là sự giảng giải sai lệch của một cá nhân? Trong vấn đề này, những sự sai lệch lớn lao về mặt giáo lý thường có thể dễ dàng nhận ra nhờ vào một phần giáo lý gọi là Tam pháp ấn. Giáo lý này được Phật thuyết dạy nhằm giúp chúng ta dựa vào đó mà phân biệt được những kinh điển nào là thực sự do Phật thuyết, và những kinh điển nào có thể là sai lệch, không phải do Phật thuyết.

Tam pháp ấn có thể được hiểu một cách đơn giản là 3 yếu tố, 3 ý nghĩa xuyên suốt có khả năng giúp ta xác định, tin chắc được một phần giáo lý nào đó là do chính đức Phật thuyết dạy. Theo đó thì tất cả kinh điển do Phật thuyết dạy đều phải có sự hiện diện của 3 ý nghĩa gọi là Tam pháp ấn này, và cũng không thể có những ý nghĩa đi ngược lại, mâu thuẫn với Tam pháp ấn.

Ba ý nghĩa này được kể ra cụ thể là: chư hành vô thường, chư pháp vô ngã và Niết-bàn tịch tĩnh. Tuy nhiên, sự phân biệt theo Tam pháp ấn là thuộc về phần giáo lý bậc cao và có thể là khá phức tạp, khó hiểu đối với nhiều người trong chúng ta. Mặt khác, những sai lệch thường gặp trong thực tế có thể dựa vào một số yếu tố để nhận ra mà chưa cần thiết phải dùng đến Tam pháp ấn.

Trước hết, chúng ta có thể dựa vào một nguyên tắc chung gọi là “ngôn hành hợp nhất” để đánh giá về sự thuyết dạy của một người nào đó. Nguyên tắc này nói lên rằng, nếu một người thuyết giảng chính pháp, thì lời nói và việc làm của người đó phải đi đôi với nhau.

Chẳng hạn, nếu một người thuyết dạy về những nguyên tắc sống đơn giản, thì điều tất yếu là bản thân người đó không thể sống một cuộc sống xa hoa với tất cả những tiện nghi mà nền văn minh hiện đại này có được. Nguyên tắc này xuất phát từ một phương thức thuyết dạy trong Phật giáo được gọi là “thân giáo”, nghĩa là dùng đời sống của chính bản thân mình để nêu gương thuyết dạy người khác.

Khi một người luôn nói ra những điều tốt đẹp nhưng bản thân lại không thực hiện đúng theo những điều tốt đẹp ấy, xem như nguyên tắc này không được đáp ứng, và chúng ta có thể bước đầu đặt ra sự hoài nghi, cảnh giác đối với sự thuyết giảng của người ấy.

Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc “nhất quán”. Nguyên tắc này nói lên rằng, khi một người thuyết giảng chính pháp thì tất cả những gì người ấy đã nói ra trước đây, đang nói ra vào lúc này và sẽ nói ra trong tương lai, tại nơi này hoặc nơi khác, hết thảy đều phải luôn luôn phù hợp, nhất quán với nhau, không thể có sự mâu thuẫn, trái ngược.

Chẳng hạn, khi một người thuyết dạy về đời sống chân thật, khen ngợi sự chân thật trong cuộc sống, thì vào một lúc khác, tại một nơi khác, người ấy không thể nói ra những điều trái ngược lại với ý nghĩa đó. Nếu nguyên tắc này không được đáp ứng, chúng ta có thể đặt vấn đề hoài nghi, cảnh giác đối với sự thuyết giảng của người ấy.

Nguyên tắc thứ ba được gọi là nguyên tắc “chiêm nghiệm và so sánh”. Nguyên tắc này vận dụng các phần giáo lý căn bản đã được học hiểu và thực hành ngay trong cuộc sống của chúng ta để so sánh với những gì được nghe thuyết giảng. Tùy theo trình độ của mỗi chúng ta, các phần giáo lý căn bản đó có thể là Tư diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Bát chính đạo, Lục Ba-la-mật... nhưng nói chung, khi chúng ta đã được học hiểu và có sự thực hành, vận dụng một trong các phần giáo lý này vào cuộc sống hằng ngày, chúng ta sẽ tự có được sự chiêm nghiệm của bản thân, sẽ tự rút ra được ý nghĩa đích thực của phần giáo lý đó.

Vì vậy, khi một người thuyết giảng chính pháp mà nói ra những điều không phù hợp với những gì chúng ta đã học, đã hiểu, đã hành trì, thì chúng ta có thể cần phải đặt ra sự hoài nghi cảnh giác đối với sự thuyết giảng của người ấy.

Trên cương vị của một người học Phật, chúng ta chỉ nên vận dụng 3 nguyên tắc trên để đặt ra sự hoài nghi và cảnh giác đối với sự thuyết giảng của một cá nhân, mà không nên tiến đến chỗ tranh biện đúng sai với cá nhân ấy. Đó là vì những sự tranh biện như thế không thực sự giúp ích được gì cho đời sống tinh thần của chúng ta.

Chúng ta chỉ cần tuân theo nguyên tắc “y pháp bất y nhân” do Phật truyền dạy, tự mình tránh xa những gì nghi ngờ là không đúng chính pháp mà thôi. Còn việc xác định chắc chắn sự thuyết giảng của một cá nhân có phải là sai lệch chính pháp hay không, chúng ta nên dành lại cho các vị luận sư uyên bác, những người có thể vận dụng phần giáo lý về Tam pháp ấn như đã nói trên để bảo vệ chính pháp.

Tác giả: Nguyên Minh

Phương châm giáo dục Gia đình Phật tử Việt Nam




Nền văn hóa giáo dục Gia Đình Phật Tử Việt Nam là chất liệu sống, hòa hợp thống nhất trong tinh thần Lục Hòa kỳ vĩ, tiếp thu – ứng dụng nguồn văn hóa hoàn hảo tuyệt bích – hướng tới cấu thành – thiện hóa xã hội toàn diện. 


Lục Hòa, sáu phương cách sống tối ưu:

1.Thân hòa đồng trú: Không phân biệt giai cấp, mỗi nhân thân đều có dòng máu cùng đỏ – giọt nước mắt cùng mặn, bình đẳng – hòa hợp trong tinh thần đồng bào thắm thiết.

2.Khẩu hòa vô tránh: Mỗi người đều có cuộc sống – quyền hạn như nhau, luôn luôn tôn trọng, xử sự hòa nhã – thân ái.

3.Ý hòa đồng duyệt: Vì mục đích hướng thiện cuộc sống, hướng đến tịnh độ nhân gian, biết gát mình qua một bên – vì tha nhân mà phụng sự.

4.Kiến hòa đồng giải: Tri thức là vốn sống, cống hiến tri thức, góp phần làm mới – tươi đẹp cuộc đời.

5.Giới hòa đồng tu: Trong cuộc sống đời thường, các qui ước được tự do – dân chủ thống nhất đề ra, nhằm mục đích nâng cao giá trị – phẩm chất cuộc sống – ổn định – thăng tiến về mặt xã hội.

6.Lợi hòa đồng quân: Mọi quyền hạn – lợi nhuận đều cộng sản, phân quyền – bình đẳng trang trãi đồng đều

Nguồn văn hóa giáo dục GĐPTVN có bề dày lịch sử trên bãy mươi năm, được kinh qua – trãi nghiệm, song hành cùng vận nước với những năm tháng sóng gió gian nan. Qua thử thách với thời gian, đến giờ phút này, văn hóa giáo dục GĐPTVN đã khẳn định, chứng tỏ được đặc tính thù thắng, đủ điều kiện tiên quyết để hội nhập, góp phần tích cực củng cố – xây dựng – phát triển hoàn chỉnh – thành tựu đời sống dân sinh. Diễn biến lịch sử đã cho thấy, sau năm 1975, dưới quyền lực toàn trị, nhiều tổ chức dân chủ lùi dần vào bóng tối rồi mất hẳn. GĐPTVN thì khác, với tinh thần vô úy, từ bóng tối của đêm đen, hàng hàng lớp lớp huynh trưởng GĐPTVN đã tiên phuông, phát đại nguyện, ngũ trược ác thế thệ tiên nhập, sẵn sàng gánh vát gian nan, kham nhẫn trước những ngờ vực đoạn kiến, những đối xử phân biệt – thiên vị – thiếu bình đẳng, tự thân nổ lực – tĩnh tại vươn mình đứng dậy, trãi lòng thắc ruột nhả tơ, miệt mài tỏa ấm hương đời.

Bãy mươi năm thử thách – chọn lọc – hành hoạt – tồn tại, đã đến lúc phải thành tâm nhận định – chính chắn nhìn lại, thừa nhận nguồn tinh hoa phật chất căn bản kỳ vĩ này, như một sinh thể thực tại bất khả phân trong dòng sinh mệnh dân tộc
“Người trồng cây hạnh người chơi
“Ta trồng cây đức để đời mai sau”

Xã hội điên đảo – não loạn – tha hóa – biến thái – bệnh hoạn làm nhứt nhối triền miên, bởi vì xã hội tối mắt tôn vinh – đua đòi – nô lệ cái bóng vật chất hư huyễn, không tôn trọng nhân nghĩa, xa rời đạo đức. Chỉ loay hoay ở phần xử lý cái Quả, mà lãng quên tô bồi cái Nhân tối trọng. Nhân là điều kiện tiên quyết làm nẩy mầm sự sống, tập trung huân tập cái Nhân để hướng tới cái Quả toàn thiện.

Dạy con từ thuở còn thơ, tuổi trẻ là sức sống, là chủ nhân của xã hội mai sau. Tập trung giáo dục tuổi trẻ, là đầu tư vào trương mục ngân hàng. Huynh trưởng GĐPTVN đã thao thức – trăn trở, nhận thức được cái giá trị trọng đại đích thực này, mà hy hiến cả tâm huyết – cả đời mình mà không bao giờ trả giá – tính toán, không nề hà nãn mõi, tập trung chăm chút giáo dục – xây dựng hoàn chỉnh nhân cách tuổi trẻ, giúp tuổi trẻ đầy đủ phẩm chất – đủ tư lương. Mai này, GĐPTVN vinh hạnh trao lại cho đời những hiền tài chân chính đích thực, góp phần tích cực phụng sự xã hội theo chân tinh thần phật giáo. Chân tinh thần phật giáo là chân giá trị đạo đức, là từ bi. Từ bi là tràn ngập yêu thương, cứu khổ – đem vui, (không phải chỉ là cái lòng thương thiển cận suông), là cái tâm vị tha trong sáng – thánh thiện – thuần lương – thanh sạch.

Mỗi nhân sinh vào đời, ai nấy đều mang vát trên đôi vai của mình hai cuộc sống nặng trĩu. Một phần là vật chất, để tô bồi – thỏa mãn tiện nghi, ganh đua với tha nhân. Một phần là đời sống tâm linh, tâm linh là đức sống – là vốn sống. Tâm linh là nguồn năng lượng duy trì sự tồn tại vĩnh cửu của nhân loại. Hai cuộc sống này, phải được cân bằng trên đôi vai, bằng không chỉ là một con người dị tật – khập khiểng giữa đời thường, làm rối rắm xã hội.

Muốn có sự tồn tại chân giá trị hạnh phúc đích thực, không ngoài cái đức hạnh tối ưu. Có đức hạnh, mỗi nhân thân thị hiện được phẩm hạnh trong sinh hoạt đời thường, nêu cao được phẩm giá, từ đó nhà tù không còn phải mở cửa, hàng hàng trung tâm văn hóa giáo dục đạo đức hướng thượng GĐPTVN truyền thống được mở ra, từ đó, kỳ vọng đời sống dân sinh mỗi ngày thêm được phong quang – thanh bình – thịnh lạc.

GĐPTVN luôn luôn tích cực hướng tới một nền giáo dục khai phóng – vị tha – nhân bản, tiêu biểu –toàn diện, cần mẫn gieo trồng – chăm bón hạt giống đạo đức năng động – toàn thiện, thẩm thấu được nguồn phật chất thù thắng này, nhân sinh như được tưới tẩm – thấm đẫm sạch trong, góp phần tích cực thanh sạch môi sinh – tỏa sáng toàn cầu..
Nguyên Hoàng

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

Ai là tác giả Huy hiệu Hoa Sen và bài ca Dây Thân Ái?


Về huy hiệu Hoa Sen:
Gia đình Phật Hóa Phổ do Cư sĩ Tâm Minh, tức Bác sĩ Lê đình Thám làm Phổ trưởng vào năm 1940. Huy hiệu Hoa Sen, trên năm cánh, dưới ba cánh, ra đời trong khoảng thời gian sau đó không xa.
Về bài ca Dây Thân Ái:
Bài ca Trại Áo Lam của Mạnh Cương, Mồng Tám Tháng Tư (Mừng Khánh Ðản) của Lê Mộng Nguyên, Sen Trắng (Bài ca chính thức của GÐPTVN) của Ưng Hội, Phạm Hữu Bình, Nguyễn Hữu Quán, Phật Giáo Việt Nam của Lê Cao Phan, Xuất Gia của Hoàng Lang, Ðoàn Liên Hương (Bài ca chính thức của Ðoàn Thiếu Nữ Phật Tử) của Hoàng Cang, Trầm Hương Ðốt của Bửu Bác&là những bài ca xuất hiện trong thời kỳ phôi thai của Gia Ðình Phật Tử. Hai bài ca thường được dùng trong sinh hoạt của Ðoàn, thứ nhất là bài Sen Trắng "Kìa xem đoá hoa trắng thơm, nhìn hào quang chiếu sáng trên bùn" là bài ca mở đầu cho buổi sinh hoạt thường xuyên hay định kỳ, thứ hai là bài Dây Thân Aùi "Dây Thân Ái lan rộng muôn nhà. Tay sắp xa nhưng tim không xa", hát lúc sắp chia tay, là những bài ca xuất hiện trong cùng thời kỳ nay vẫn còn làm vương vấn biết bao nhiêu kỷ niệm cho nhiều lớp tuổi. Bài Dây Thân Ái cho đến nay, rất nhiều người vẫn chưa biết ai là tác giả!
 Tác giả của huy hiệu Hoa Sen và bài ca Dây Thân Ái là Ông Lê Lừng, nay ngoài 80 tuổi.
Việc anh Lừng góp công sức sáng lập Gia đình Phật Hóa Phổ, khởi đầu từ miền Trung, theo anh, là do nhân duyên cả. Anh ấy vẽ huy hiệu hoa sen vào khoảng năm 1939 hay 40. Lúc bấy giờ, anh Lừng và Ông Lê đình Luân, con trai của Bác sĩ Lê đình Thám, là Hướng đạo sinh Ðoàn Ðinh Bộ Lĩnh ở Huế. Gia đình không cho anh gia nhập Hướng đạo. Không thực hiện được ý thích của mình, lại thêm bản tánh chuộng tự do, anh ấy bèn mua một chiếc xuồng nang khá rộng rãi sống như kiểu thoát ly gia đình. Ban đêm thì ngủ ở xuồng, ban ngày đi ăn cơm tháng, đi dạy học và viết bài cho Bác sĩ Lê đình Thám. Nghề tay trái lúc đó là Tốc ký viên nghiệp dư, viết bài hay viết kinh do Ông Thám đọc để hiệu đính lại và cho đăng trên báo Viên Âm. Tiền kiếm được do dạy học và viết bài cho báo.
Lúc đó, đời sống thật lãng mạn vô cùng. Ban đêm, còn gì sung sướng bằng, nghêu ngao giữa giòng Hương Giang lững lờ, cho thuyền trôi về Cồn Hến rủ vài đứa em cùng đoàn Hướng đạo đi ngược giòng nước rong chơi, hò hát trên sông, rồi ngủ thiếp trên xuồng khi nào không hay. Có khi, xuồng neo trên Huế, dây neo đứt từ hồi nào, xuồng nhẹ nhàng trôi qua Cồn Hến, đến một nơi nào xa lạ, sáng ngủ đậy mới hay, anh lại phải chèo ngược lên Huế. Cũng nhờ chiếc xuồng đó mà ngày ngày anh Lừng chèo lên Bến Ngự làm việc kiếm tiền, trưa chèo về dạy mấy em nhỏ. Các em nhỏ nầy là con nhà nghèo, con của giới cu ly xe kéo, của giới bán hàng rong, ngủ đường ngủ chợ, cù bơ cù bấc, nghèo đói. Anh đã dạy cho các cháu học, đặt bài hát tiếng Việt cho các cháu ca hát vào những đêm trăng.

Về sau, lụt trôi mất chiếc xuồng, anh Lừng phải đi bộ từ Ðập Ðá lên đến Bến Ngự để làm việc. Gia đình Bác sĩ Thám thấy anh Lừng sống lang bạt, bảo về sống chung trong gia đình. Trong gia đình Ông Thám, chiều nào cũng tụng kinh. Anh em trong nhà và các em nhỏ trong xóm cũng đến tụng kinh buổi chiều. Nhân dịp nầy anh Lừng bàn với con Ông Thám thành lập một đoàn hướng đạo rồi gọi là Hướng đạo Phật tử. Ý kiến nầy được Ông Thám chấp thuận nhưng thay vì lấy tên Ðoàn Hướng Ðạo Phật Tử thì lấy tên là Gia đình Phật Hóa Phổ. Nếu lập Ðoàn Hướng đạo thì phải xin phép thêm rắc rối, chi bằng cứ coi là đoàn của gia đình, phổ biến Phật học trong phạm vi gia đình thôi. Từ đó, Gia đình Phật Hóa Phổ Tâm Minh (Tâm Minh là pháp danh của Ông Thám) hoạt động, và Gia đình Phật Hóa Phổ là một tổ chức Gia đình Phật tử đầu tiên vậy.
Gia đình Phật Hóa Phổ có mục đích phổ biến đạo Phật, dạy cho các em nhỏ biết lòng tin chân chánh, theo đạo đúng đắn, không bị mê tín dị đoan làm mê lầm. Lần lượt các nơi khác ở Huế cũng thành lập theo mô thức đó, chẳng hạn như gia đình Ông Tôn thất Tùng ở Bến Ngự do Ông Ðinh văn Nam mà anh Lừng lúc đó gọi là anh Nam (nay là Hòa Thượng Thích Minh Châu) phụ trách, ở Vỹ Dạ có gia đình Ông Nguyễn khoa Toàn, ở Bến Ngự còn có gia đình Ông Nghè Khác. Chủ trương lúc đó là ngăn cấm không cho các em nói tiếng Việt pha tiếng Pháp, hễ nói tiếng Pháp thì phải nói nguyên câu. Những lần đi cắm trại gần Nam Giao như Tứ Tây, Trúc Lâm, Tây Thiên, hay trong các rừng Thông tại Huế, anh Lừng làm Trại trưởng. Khi về nhà anh ta viết một bài tả lại cuộc cắm trại đó và đăng trên báo.
Khi Ðoàn Phật Hóa Phổ đã đông, anh Lừng tự hỏi tại sao mình không có một huy hiệu đeo trước ngực như anh em bên Hướng đạo khi làm lễ tuyên thệ có đeo huy hiệu Hoa Huệ (fleur de Lis). Anh Lừng bèn tự ý vẽ ra, không bắt chước của ai, cũng không phải "do nằm mộng" thấy hoa sen, miễn sao đơn sơ và đẹp. Sau nầy có Ðoàn Phật Học Ðức Dục, gồm những vị có học thức mà muốn tìm hiểu thêm Phật giáo, cũng dùng huy hiệu hoa sen nầy nhưng thêm mấy chữ viết tắt PHÐD ở phía trên. Ðoàn Phật Học Ðức Dục gồm các em lớn tuổi hơn các em trong Gia đình Phật Hóa Phổ, do Bác sĩ Thám dắt dìu nhằm đào tạo thanh niên trí thức làm rường cột cho việc hoằng dương chánh pháp. Nhưng anh Lừng không ngờ sau khi rời khỏi Huế vào Nam làm Kiểm lâm, huy hiệu hoa sen lại được phổ biến khắp toàn quốc, nhất là miền Trung. Từ chùa chiền, đình miếu, hay trụ sở các Hội Phật học, cho đến các quan tài cũng trang trí hình hoa sen đó. Cũng trong thời gian trên, bài hát Dây Thân Ái ra đời cùng với nhiều bài hát khác.
Anh Lừng hiện nay cùng gia đình ở Gia Ðịnh nhưng dưới nhãn quan của anh, anh đã xuất gia. Bởi vì xuất gia là gì, theo anh, là ra khỏi ngôi nhà phiền não, chớ không có gì khác. Bỏ qua những gì canh cánh bên lòng, nhất là những việc trước mắt, không thể hay chưa thể thực hiện được. Việc gì có thể bỏ qua được cho nhẹ nhàng thì bỏ qua đi: không trách ai, giận ai, phiền ai cả. Giữ tấm lòng thanh thản nhẹ nhàng, quên đi những ân oán cũ, hay những phiền não cũ mà hiện nay thấy là vô ích. Nói chung, tránh phiền não.
                                                                                                                          Tâm Hảo Hồ Phùng
Created By Sora Templates