Thứ Hai, 13 tháng 5, 2013

Phương hướng phát triển mới của Gia đình Phật tử Việt Nam




1. Bối cảnh hình thành Gia Đình Phật Tử:
Từ thế kỷ thứ 19 sang đầu thế kỷ 20, thực dân Pháp đã chia cắt nước ta làm ba miền để dễ cai trị. Triều đình nhà Nguyễn lại lo chấn hưng Nho học. Phật giáo bị lu mờ, bị xem là cổ hủ, tín đồ phần lớn chỉ lo việc cầu đạo, sa ngã vào tín ngưỡng hình thức thế tục. Trong khi đó, văn hóa Tây phương xâm lấn dần, được xem là trào lưu mới, văn minh. Thiên chúa giáo, với sự ủng hộ của thực dân đã phát triển mạnh, mang ý nghĩa tiến bộ, hợp thời.
Châu Á với truyền thống Phật giáo cũng lâm vào hoàn cảnh đó. Một số vị tôn túc thức thời đã tìm cách phục hưng Phật giáo vừa cho phù hợp với thời đại mới. Ở Tích Lan, Đại sư Dhammapala mở phong trào khôi phục truyền thống Phật giáo. Ở Trung Quốc, cư sĩ Dương Nhân Sơn lập Kỳ Hoàn tinh xá, triệu tập các nhà Phật học nghiên cứu các kinh sách bằng Hán, Anh, và Pa-li ngữ; Đại sư Thái Hư lập Học viện Vũ Xương đẩy mạnh việc chấn hưng Phật giáo. Các nước Myanmar, Sri Lanka, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan cũng nổi lên phong trào đổi mới Phật giáo.
Từ năm 1920 khắp ba miền của đất nước, nhiều vị tôn túc Phật giáo trí đức cao vời đã hô hào và mở đầu phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam. Ở miền Bắc có Đại sư Thanh Hanh giảng dạy Phật pháp thu hút đông đảo quần chúng Phật tử, ngài Đỗ Văn Hỷ ấn hành khá nhiều kinh sách Phật giáo; Ở miền Trung có các Đại sư Tuệ Pháp, Thanh Thái, Đắc Ân, Tâm Tịnh, Phước Huệ…  Ở miền Nam có các Đại sư Từ Phong, Khánh Hòa, Huệ Quang, Khánh Anh…  Chư vị đều là những tu sĩ nổi tiếng, thu hút được các giới Phật tử nhờ cách giảng dạy nghiêm túc, có phương pháp thiện xảo. Thế rồi từ  1930, 1932, 1935 các hội Phật học ở cả ba miền đã đươc thành lập, cải tiến hoạt động, song song với việc các kinh sách và tạp chí Phật giáo ngày một phổ biến nhiều, mang tính tân học Phật giáo.
Một phong trào có ảnh hưởng khá nhiều đến động cơ hình thành, cơ cấu tổ chức và phát triển của Gia đình Phật tử là tổ chức Hướng đạo sinh Việt Nam, một phát triển của Hướng đạo sinh Thế giới do Trung tướng người Anh Baden Powell đề xướng năm 1907 đã có hoạt động tại khá nhiều nơi trên thế giới. Năm 1930, phong trào này được du nhập vào Việt Nam do ông Trần Văn Khắc ở Hà Nội chủ xướng; chủ trương bổ sung giáo dục gia đình và học đường, giúp thanh thiếu niên rèn luyện tính khí, tháo vát, thích nghi với hoàn cảnh, trở thành công dân tốt, có trách nhiệm. Phong trào được sự tham gia tổ chức của các vị thời danh như Tạ Quang Bửu, Trần Duy Hưng, Lưu Hữu Phước, Tôn Thất Tùng.
Nhân lễ Phật Đản năm Ất Hợi (10-05-1935) được Hội An Nam Phật học tổ chức tại Huế, hình ảnh 52 em nhỏ mặc đồng phục đã gợi lên ý tưởng thành lập một tổ chức cho thanh thiếu niên Phật tử. Cư sĩ Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, Chánh hội trưởng hội An Nam Phật học đã xây dựng ý tưởng này và đến năm 1940, đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục ra đời với sự hướng dẫn trực tiếp của Cư sĩ. Khởi đầu, đoàn gồm các vị như Phạm Hữu Bình (Trưởng đoàn), Đinh Văn Nam (Phó đoàn), Ngô Điền (Thư ký), Đinh Văn Vinh, Ngô Thừa, Võ Đình Cường. Đoàn lớn mạnh không ngừng; đến năm 1944, đổi tên thành Gia đình Phật hóa phổ. Đại hội Gia đình Phật hóa phổ tổ chức tại chùa Từ Đàm gồm các đại biểu ở chín tỉnh miền Trung diễn ra từ 24 đến 26-4-1951 và cải danhGia đình Phật hóa phổ thành Gia đình Phật tử Việt Nam. Cư sĩ Võ Đình Cường được cử làm Trưởng Ban Hướng dẫn Gia Đình Phật tử Tổng hội Trung phần.
Từ đó, Gia đình Phật tử Việt Nam phát triển mạnh mẽ. Kể từ Đại hội toàn quốc năm 1953 tại Huế, Gia đình Phật tử tại Việt Nam do cư sĩ Tống Hồ Cầm làm Trưởng Ban Hướng dẫn đã mở rộng khắp miền Nam và mỗi gia đình đều có vị thầy Cố vấn Giáo lý. Tại Sài Gòn có quý ngài Thiện Hoa, Thiện Hòa, Thiền Định, Thanh Từ, Trí Hữu, Huyền Vi…
Trải qua cuộc đấu tranh chống chính quyền Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo, các thành viên Gia đình Phật tử đã hy sinh thân mạng, bị tù đày tra tấn cho đến khi chính quyền phản động ấy bị lật đổ. Sau ngày thống nhất đất nước, Gia đình Phật tử đình trệ một thời gian ngắn rồi được Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận và được hoạt động trở lại. Ngày nay, Gia đình Phật tử đã có được 75.000 đoàn viên và huynh trưởng với 1.006 Gia đình tại 31 tỉnh thành trên ba miền đất nước.
 2. Những nhận định về quá trình hoạt động
Kể từ khi manh nha ý tưởng thành lập đến khi hình thành tổ chức và sau đó là hoạt động của Gia đình Phật tử, ta thấy sự phát triển mạnh mẽ của đoàn thể này. Ta có thể kể một số nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự phát triển của Gia đình Phật tử.
a. Trước hết là manh nha của ý tưởng sáng lập xuất phát từ lòng yêu nước, yêu đạo Phật, muốn xây dựng một xã hội hiền thiện, đào tạo những người Phật tử chân chính, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của Phật giáo và văn hóa nước nhà trước âm mưu thống trị, đồng hóa của thực dân xâm lược.
b. Thành phần lãnh đạo là chư Tôn đức, đạo hạnh, trí huệ cao vời và các cư sĩ tân học, thức thời đồng tâm hợp lực thực hiện lý tưởng Phật giáo, vì thế hệ trẻ rường cột của đất nước. Chư vị có tầm nhìn xa trông rộng, biết áp dụng trong tính sáng tạo các phương cách, nội dung sinh hoạt, tổ chức, phát triển của phong trào cải tiến Phật giáo trên thế giới, nhất là ở châu Á.
c. Nội dung sinh hoạt rất tốt, gây không khí tươi vui, hấp dẫn thanh thiếu niên, giới thiệu Phật giáo rất nhẹ nhàng trong khung cảnh ngôi chùa, các trò chơi, các buổi cắm trại, hoạt động văn nghệ… rất mới mẻ, phù hợp với tuổi trẻ. Chính cái mới, đứng đắn, thiết thực có sức hấp dẫn nhiều nhất.
d. Có tổ chức các nghành, các cấp, nhân sự chặt chẽ, từ vị thầy Cố vấn Giáo lý đến các huynh trưởng các cấp, đến bác Gia trưởng… đến mối liên hệ cấp gia đình, cấp quận huyện, tỉnh thành, địa phương và trung ương.
e. Cần nói thêm về sự mô phỏng và áp dụng sáng tạo của Gia đình Phật tử từ sinh hoạt của tổ chức Hướng đạo sinh. Chủ trương của hai bên đều gần như nhau, nhưng Gia đình Phật tử nhấn mạnh đến tính Phật giáo, tính Việt Nam. Do đó mà gia đình Phật tử phát triển mạnh, vượt hẳn Hướng đạo Việt Nam chỉ trong vòng 30 năm kể từ khi được thành lập.
3. Nhận định về tình hình hiện nay và góp ý về phương hướng phát triển mới
Trong bốn năm qua, kể từ khi Giáo hội chấp nhận Gia đình Phật tử là một phân ban của Ban Hướng dẫn Cư sĩ Phật tử, các hoạt động của Gia đình Phật tử có chuyển hướng tốt, mạnh mẽ, sinh động hơn rất nhiều. Các cuộc hội thảo, các trại huấn luyện, các công tác xã hội… nhiều hơn, có phẩm chất cao hơn, quy mô hơn so với trước.
Tuy vậy, so với những năm trước 1975 thì Gia đình Phật tử cũng không phát triển gì nhiều, và nhiều mặt công tác còn yếu hơn. Hãy xem tổng số huynh trưởng và đoàn viên hiện nay là 75.000 so với trước kia là 73.000; đây là hai con số xấp xỉ trong khi dân số nước ta tăng lên gấp đôi so với 40 năm trước đây. Một nguyên nhân chính trong việc Giáo hội PGVN chậm đánh giá tầm quan trọng của GĐPT là chính nhân sự hoạt động của GĐPT thiếu ổn định. Nghi kỵ, dèm pha, bất đồng ý kiến, chia rẽ… giữa các huynh trưởng về lập trường, về vị trí…
Nếu ta xét đến những nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự phát triển của Gia đình Phật tử trước kia và xét tình hình hiện nay thì thiết nghĩ cũng có thể rút ra được một số điểm quan trọng để đưa vào kế hoạch, chương trình hoạt động trong phương hướng sắp đến của GĐPT. Theo chúng tôi, sau đây là một số điểm chúng ta cần xét đến và cố gắng thực hiện cho được trong kế hoạch phát triển GĐPT.
a. Củng cố nhân sự: Trước hết là sự đoàn kết giữa các huynh trưởng các cấp vì lý tưởng của GĐPT, không phân biệt quan điểm, lập trường, người cũ, người mới. Người cũ đã lâu không hoạt động nay hoạt động trở lại là điều đáng quý.
Chư tôn lãnh đạo trong GĐPT cần tin tưởng, giúp đỡ các huynh trưởng hoạt động, các tích cực khuyến nghị Giáo hội lưu tâm nhiều hơn đến GĐPT, cần tham gia lập kế hoạch, cần có ý kiến sáng tạo, cần có trách nhiệm nhiều hơn đối với GĐPT.
Các huynh trưởng cần tuân phục, chân thành, gần gũi với chư tôn để được chỉ đạo, giúp đỡ trong công tác. Đối với đoàn sinh, phải chăm lo gần gũi nhiều hơn.
Cần có Ban Bảo trợ, Ban Cố vấn vững mạnh.
b. Cải tiến tổ chức, hành chánh: Từ nay cho đến hết nhiệm kỳ còn hơn một năm nữa, phân ban GĐPT TW cần vận động qua các hội thảo, lập kiến nghị… để đến kỳ Đại hội Đại biểu PG toàn quốc sắp đến có thể thông qua Hiến chương có sửa đổi, công nhận phân ban GĐPT là một ban chính thức chứ không phải thuộc Ban Hướng dẫn Phật tử vì nội dung sinh hoạt của GĐPT cần độc lập để có thể phát triển nhanh chóng.
GĐPT cần có Ban Bảo trợ vững mạnh để giúp các chi phí hoạt động. Tuy vậy, GĐPT cần phải có quỹ riêng bằng cách đề nghị các đoàn viên, huynh trưởng đóng nguyệt liễm (có thể theo quý), trung bình mỗi thành viên đóng lệ phí mỗi tháng khoảng 4.000 đồng. Mỗi Gia đình Phật tử giữ 50%, 25% đóng góp cho phân ban GĐPT tỉnh thành, 25% đóng cho Ban Hướng dẫn GĐPT TW. Với 75.000 thành viên, Ban GĐPT TW mỗi tháng có khoảng 75.000.000 đồng tiền quỹ. Để thực hiện điều này, quý Thầy cố vấn giáo lý và các huynh trưởng cần vận động đoàn sinh và gia đình các em thuận tình đóng góp khoản lệ phí ít oi ấy.
c. Cải tiến nội dung sinh hoạt: Sở dĩ GĐPT thu hút được thanh thiếu niên từ khi mới được thành lập là do có nội dung sinh hoạt lành mạnh, mới mẻ và cần thiết. Để phát triển GĐPT trong thời hội nhập, chúng ta cần tìm ra cái mới, cái bổ ích, phù hợp với thời đại và tránh xa những tiêu cực của thời đại.
Cần tăng cường sự thiết thực và hấp dẫn trong sinh hoạt: hình thức lễ lạy, tụng kinh, các kỹ năng chuyên môn, âm nhạc, kịch, thảo luận các đề tài nhỏ, thông thường về gia đình, học đường, xã hội…, các trò chơi, các cuộc cắm trại qua đó rèn luyện sự sáng tạo, tháo vát, tinh thần đồng đội, trách nhiệm… ở các em.
Một nội dung cần thiết được thực hiện mạnh mẽ hơn đó là tham gia các việc công ích, từ thiện xã hội. Hình ảnh GĐPT thật hiếm thấy trong các công tác này: Vệ sinh đường phố, trồng cây xanh, cứu trợ bão lụt, giúp người cơ nhỡ, tiếp sức mùa thi…
d. Tăng cường công tác đối ngoại: Tạo cho được mối liên kết giữa GĐPT tại VN với các GĐPT ở nước ngoài, vì lý tưởng GĐPT, vì Đạo pháp và dân tộc, tiến tới sự đoàn kết tương trợ.
Cần có sự liên kết chặt chẽ với các ban nghành trong Giáo hội để được hỗ trợ, chia xẻ công tác. Ví dụ: tham gia công tác xã hội với Ban Từ thiện Xã hội, đóng góp công sức vào các hoạt động, lễ lạc của Giáo hội trung ương, địa phương.
Đối với gia đình của các đoàn sinh, các huynh trưởng cố gắng có sự liên hệ chặt chẽ hơn để tìm hiểu các em, để được góp ý. Thỉnh thoảng tổ chức cuộc gặp mặt chung của phụ huynh các em, tạo không khí đầm ấm và sự ủng hộ mạnh mẽ hơn.
 4. Kết luận
Trên đây chỉ là một số ý kiến đóng góp cho việc phát triển Gia đình Phật tử. Chúng ta không quên lời nói tâm huyết của vị tiên phong trong việc thành lập GĐPT, Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám: “Không có một thành tựu bền vững nào lại không nhắm đến hàng ngũ thiếu niên, họ là những người nối tiếp chúng ta trong ngày mai.” Xây dựng một xã hội hiền thiện thấm nhuần tinh thần Phật giáo là mục đích của chúng ta. Xây dựng vững bền và phát triển đúng hướng GĐPT là vô cùng quan trọng.
ĐĐ. Thích Nguyên Thành - Phó Viện Trưởng Học viện PGVN tại Huế

Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Mật Thư : Hệ thống tọa độ

( Sưu tầm)

Bài viết dưới đây sẽgiới thiệu đến các bạn hệ thống mật thư tọa độ và biến thể của nó thường gặp là mật thư Ma phương.
  
I. Mật thư hệ thống tọa độ là gì?Đây là một dạng mật thư theo dạng tọa độ (đồ thị)rất phong phú và đòi hỏi sự chính xác cao. Đồ thị là một tập các đối tượng gọilà đỉnh nối với nhau bởi các cạnh, một điểm được xác định chính xác khi đã đốichiếu bởi tung độ (chiều dọc) và hoành độ (chiều ngang) đã được biết trước.
Theo đó người ta sắp xếp các chữ cái (thường là25, bỏ Z) vào trong các ô chia đều các cạnh (mỗi cạnh 5 ô) trong một hình vuônglớn. Khi giải mã ta chỉ cần đối chiếu trục ngang và trục đứng là sẽ tìm ra đượcnội dung cần tìm.
 




Thứ Tư, 1 tháng 5, 2013

Y pháp bất y nhân


  Đây là một nguyên tắc đã được nêu ra khá sớm, ngay từ thời đức Phật còn tại thế. Trong giai đoạn hiện nay, nguyên tắc này càng có ý nghĩa quan trọng hơn trong việc xác lập niềm tin vào Tam Bảo.
Thế nào là y pháp bất y nhân? Nói một cách đơn giản, đó là chúng ta đặt niềm tin và làm theo chính pháp và không tin theo bất cứ ai nói hoặc làm sai chính pháp.

Chính pháp do đức Phật truyền dạy, trước hết là những chân lý giúp ta nhận thức đúng về mọi sự việc, hiện tượng trong đời sống, và những nguyên tắc hay phương thức sống thiết thực, có thể vận dụng vào cuộc sống hằng ngày để đạt được những kết quả cụ thể trong việc hoàn thiện cuộc sống, làm giảm nhẹ và triệt tiêu những khổ đau vốn có trong đời sống. Những chân lý và nguyên tắc hay phương thức ấy được ghi chép trong kinh điển và được chư tăng giảng giải, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Nhưng một vấn đề không mong muốn có thể xảy ra, đó là có những người tự nhận rằng mình truyền dạy chính pháp của đức Phật, nhưng bản thân lại không có sự thực hành đúng theo chính pháp, và do đó cũng dẫn đến một hệ quả tất yếu là thường giảng giải sai lệch về chính pháp.

Trong trường hợp này, nguyên tắc y pháp bất y nhân có ý nghĩa giúp ta giữ vững được niềm tin vào chính pháp mà không để cho sự sai trái của một vài cá nhân nào đó làm ảnh hưởng đến niềm tin của mình. Bởi vì, những việc làm sai trái hoặc những lời giảng giải không đúng chính pháp của một cá nhân xét cho cùng chỉ là sự sai lầm của riêng cá nhân đó, không liên quan gì đến chính pháp do Phật truyền dạy.

Lấy một ví dụ đơn giản, như có người khuyên ta không nên uống rượu, nhưng bản thân người ấy lại sáng say chiều xỉn, không có được một cuộc sống nghiêm túc. Trong trường hợp này, chúng ta cần phân biệt hai khía cạnh tách biệt của vấn đề.

Trước hết, lời khuyên do người ấy đưa ra là một lời khuyên tốt, đáng để chúng ta nghe theo. Thứ hai, mặc dù tư cách của người ấy không xứng đáng chút nào với lời khuyên tốt đẹp mà ông ta đưa ra cho người khác, nhưng điều đó hoàn toàn không làm mất đi tính chất tốt đẹp của lời khuyên.

Vì vậy, trong trường hợp này, nghe theo lời khuyên của ông ta là y pháp, và không noi theo việc làm của ông ta là bất y nhân. Mặt khác, vì xét thấy lời khuyên của ông ta là đúng đắn, tốt đẹp nên chúng ta tin theo, như vậy là y pháp; dù tư cách của ông ta không xứng đáng với lời khuyên, nhưng chúng ta vẫn không để điều đó làm ảnh hưởng đến niềm tin của ta vào lời khuyên tốt đẹp ấy, như vậy là bất y nhân.

Trong môi trường sống khá phức tạp ngày nay, chúng ta không phải lúc nào cũng được tiếp xúc với những con người tốt đẹp, hướng thượng, mà còn có cả những con người nhỏ nhen, ích kỷ và nhận thức cũng như hành động đều sai lầm. Một đôi khi, những người này cũng đứng trong hàng ngũ truyền dạy giáo pháp của đức Phật.

Chúng ta không nên ghét bỏ, mà trái lại cần phải thương xót những con người tội nghiệp này, vì họ không thực hành theo đúng chính pháp của đức Phật nên chắc chắn là họ không thể có được một đời sống an lạc và hạnh phúc chân thật.

Tuy nhiên, chúng ta cần tỉnh táo nhận biết để không đặt niềm tin và làm theo những người như thế. Mặt khác, ta cũng không thể vì sự sai trái của những cá nhân ấy mà đánh mất niềm tin vào chính pháp, hay nói chung là vào Tam bảo.

Tất nhiên, một câu hỏi có thể được nêu ra ở đây là: làm thế nào để xác định được đâu là chính pháp do Phật truyền dạy và đâu là sự giảng giải sai lệch của một cá nhân? Trong vấn đề này, những sự sai lệch lớn lao về mặt giáo lý thường có thể dễ dàng nhận ra nhờ vào một phần giáo lý gọi là Tam pháp ấn. Giáo lý này được Phật thuyết dạy nhằm giúp chúng ta dựa vào đó mà phân biệt được những kinh điển nào là thực sự do Phật thuyết, và những kinh điển nào có thể là sai lệch, không phải do Phật thuyết.

Tam pháp ấn có thể được hiểu một cách đơn giản là 3 yếu tố, 3 ý nghĩa xuyên suốt có khả năng giúp ta xác định, tin chắc được một phần giáo lý nào đó là do chính đức Phật thuyết dạy. Theo đó thì tất cả kinh điển do Phật thuyết dạy đều phải có sự hiện diện của 3 ý nghĩa gọi là Tam pháp ấn này, và cũng không thể có những ý nghĩa đi ngược lại, mâu thuẫn với Tam pháp ấn.

Ba ý nghĩa này được kể ra cụ thể là: chư hành vô thường, chư pháp vô ngã và Niết-bàn tịch tĩnh. Tuy nhiên, sự phân biệt theo Tam pháp ấn là thuộc về phần giáo lý bậc cao và có thể là khá phức tạp, khó hiểu đối với nhiều người trong chúng ta. Mặt khác, những sai lệch thường gặp trong thực tế có thể dựa vào một số yếu tố để nhận ra mà chưa cần thiết phải dùng đến Tam pháp ấn.

Trước hết, chúng ta có thể dựa vào một nguyên tắc chung gọi là “ngôn hành hợp nhất” để đánh giá về sự thuyết dạy của một người nào đó. Nguyên tắc này nói lên rằng, nếu một người thuyết giảng chính pháp, thì lời nói và việc làm của người đó phải đi đôi với nhau.

Chẳng hạn, nếu một người thuyết dạy về những nguyên tắc sống đơn giản, thì điều tất yếu là bản thân người đó không thể sống một cuộc sống xa hoa với tất cả những tiện nghi mà nền văn minh hiện đại này có được. Nguyên tắc này xuất phát từ một phương thức thuyết dạy trong Phật giáo được gọi là “thân giáo”, nghĩa là dùng đời sống của chính bản thân mình để nêu gương thuyết dạy người khác.

Khi một người luôn nói ra những điều tốt đẹp nhưng bản thân lại không thực hiện đúng theo những điều tốt đẹp ấy, xem như nguyên tắc này không được đáp ứng, và chúng ta có thể bước đầu đặt ra sự hoài nghi, cảnh giác đối với sự thuyết giảng của người ấy.

Nguyên tắc thứ hai là nguyên tắc “nhất quán”. Nguyên tắc này nói lên rằng, khi một người thuyết giảng chính pháp thì tất cả những gì người ấy đã nói ra trước đây, đang nói ra vào lúc này và sẽ nói ra trong tương lai, tại nơi này hoặc nơi khác, hết thảy đều phải luôn luôn phù hợp, nhất quán với nhau, không thể có sự mâu thuẫn, trái ngược.

Chẳng hạn, khi một người thuyết dạy về đời sống chân thật, khen ngợi sự chân thật trong cuộc sống, thì vào một lúc khác, tại một nơi khác, người ấy không thể nói ra những điều trái ngược lại với ý nghĩa đó. Nếu nguyên tắc này không được đáp ứng, chúng ta có thể đặt vấn đề hoài nghi, cảnh giác đối với sự thuyết giảng của người ấy.

Nguyên tắc thứ ba được gọi là nguyên tắc “chiêm nghiệm và so sánh”. Nguyên tắc này vận dụng các phần giáo lý căn bản đã được học hiểu và thực hành ngay trong cuộc sống của chúng ta để so sánh với những gì được nghe thuyết giảng. Tùy theo trình độ của mỗi chúng ta, các phần giáo lý căn bản đó có thể là Tư diệu đế, Thập nhị nhân duyên, Bát chính đạo, Lục Ba-la-mật... nhưng nói chung, khi chúng ta đã được học hiểu và có sự thực hành, vận dụng một trong các phần giáo lý này vào cuộc sống hằng ngày, chúng ta sẽ tự có được sự chiêm nghiệm của bản thân, sẽ tự rút ra được ý nghĩa đích thực của phần giáo lý đó.

Vì vậy, khi một người thuyết giảng chính pháp mà nói ra những điều không phù hợp với những gì chúng ta đã học, đã hiểu, đã hành trì, thì chúng ta có thể cần phải đặt ra sự hoài nghi cảnh giác đối với sự thuyết giảng của người ấy.

Trên cương vị của một người học Phật, chúng ta chỉ nên vận dụng 3 nguyên tắc trên để đặt ra sự hoài nghi và cảnh giác đối với sự thuyết giảng của một cá nhân, mà không nên tiến đến chỗ tranh biện đúng sai với cá nhân ấy. Đó là vì những sự tranh biện như thế không thực sự giúp ích được gì cho đời sống tinh thần của chúng ta.

Chúng ta chỉ cần tuân theo nguyên tắc “y pháp bất y nhân” do Phật truyền dạy, tự mình tránh xa những gì nghi ngờ là không đúng chính pháp mà thôi. Còn việc xác định chắc chắn sự thuyết giảng của một cá nhân có phải là sai lệch chính pháp hay không, chúng ta nên dành lại cho các vị luận sư uyên bác, những người có thể vận dụng phần giáo lý về Tam pháp ấn như đã nói trên để bảo vệ chính pháp.

Tác giả: Nguyên Minh

Phương châm giáo dục Gia đình Phật tử Việt Nam




Nền văn hóa giáo dục Gia Đình Phật Tử Việt Nam là chất liệu sống, hòa hợp thống nhất trong tinh thần Lục Hòa kỳ vĩ, tiếp thu – ứng dụng nguồn văn hóa hoàn hảo tuyệt bích – hướng tới cấu thành – thiện hóa xã hội toàn diện. 


Lục Hòa, sáu phương cách sống tối ưu:

1.Thân hòa đồng trú: Không phân biệt giai cấp, mỗi nhân thân đều có dòng máu cùng đỏ – giọt nước mắt cùng mặn, bình đẳng – hòa hợp trong tinh thần đồng bào thắm thiết.

2.Khẩu hòa vô tránh: Mỗi người đều có cuộc sống – quyền hạn như nhau, luôn luôn tôn trọng, xử sự hòa nhã – thân ái.

3.Ý hòa đồng duyệt: Vì mục đích hướng thiện cuộc sống, hướng đến tịnh độ nhân gian, biết gát mình qua một bên – vì tha nhân mà phụng sự.

4.Kiến hòa đồng giải: Tri thức là vốn sống, cống hiến tri thức, góp phần làm mới – tươi đẹp cuộc đời.

5.Giới hòa đồng tu: Trong cuộc sống đời thường, các qui ước được tự do – dân chủ thống nhất đề ra, nhằm mục đích nâng cao giá trị – phẩm chất cuộc sống – ổn định – thăng tiến về mặt xã hội.

6.Lợi hòa đồng quân: Mọi quyền hạn – lợi nhuận đều cộng sản, phân quyền – bình đẳng trang trãi đồng đều

Nguồn văn hóa giáo dục GĐPTVN có bề dày lịch sử trên bãy mươi năm, được kinh qua – trãi nghiệm, song hành cùng vận nước với những năm tháng sóng gió gian nan. Qua thử thách với thời gian, đến giờ phút này, văn hóa giáo dục GĐPTVN đã khẳn định, chứng tỏ được đặc tính thù thắng, đủ điều kiện tiên quyết để hội nhập, góp phần tích cực củng cố – xây dựng – phát triển hoàn chỉnh – thành tựu đời sống dân sinh. Diễn biến lịch sử đã cho thấy, sau năm 1975, dưới quyền lực toàn trị, nhiều tổ chức dân chủ lùi dần vào bóng tối rồi mất hẳn. GĐPTVN thì khác, với tinh thần vô úy, từ bóng tối của đêm đen, hàng hàng lớp lớp huynh trưởng GĐPTVN đã tiên phuông, phát đại nguyện, ngũ trược ác thế thệ tiên nhập, sẵn sàng gánh vát gian nan, kham nhẫn trước những ngờ vực đoạn kiến, những đối xử phân biệt – thiên vị – thiếu bình đẳng, tự thân nổ lực – tĩnh tại vươn mình đứng dậy, trãi lòng thắc ruột nhả tơ, miệt mài tỏa ấm hương đời.

Bãy mươi năm thử thách – chọn lọc – hành hoạt – tồn tại, đã đến lúc phải thành tâm nhận định – chính chắn nhìn lại, thừa nhận nguồn tinh hoa phật chất căn bản kỳ vĩ này, như một sinh thể thực tại bất khả phân trong dòng sinh mệnh dân tộc
“Người trồng cây hạnh người chơi
“Ta trồng cây đức để đời mai sau”

Xã hội điên đảo – não loạn – tha hóa – biến thái – bệnh hoạn làm nhứt nhối triền miên, bởi vì xã hội tối mắt tôn vinh – đua đòi – nô lệ cái bóng vật chất hư huyễn, không tôn trọng nhân nghĩa, xa rời đạo đức. Chỉ loay hoay ở phần xử lý cái Quả, mà lãng quên tô bồi cái Nhân tối trọng. Nhân là điều kiện tiên quyết làm nẩy mầm sự sống, tập trung huân tập cái Nhân để hướng tới cái Quả toàn thiện.

Dạy con từ thuở còn thơ, tuổi trẻ là sức sống, là chủ nhân của xã hội mai sau. Tập trung giáo dục tuổi trẻ, là đầu tư vào trương mục ngân hàng. Huynh trưởng GĐPTVN đã thao thức – trăn trở, nhận thức được cái giá trị trọng đại đích thực này, mà hy hiến cả tâm huyết – cả đời mình mà không bao giờ trả giá – tính toán, không nề hà nãn mõi, tập trung chăm chút giáo dục – xây dựng hoàn chỉnh nhân cách tuổi trẻ, giúp tuổi trẻ đầy đủ phẩm chất – đủ tư lương. Mai này, GĐPTVN vinh hạnh trao lại cho đời những hiền tài chân chính đích thực, góp phần tích cực phụng sự xã hội theo chân tinh thần phật giáo. Chân tinh thần phật giáo là chân giá trị đạo đức, là từ bi. Từ bi là tràn ngập yêu thương, cứu khổ – đem vui, (không phải chỉ là cái lòng thương thiển cận suông), là cái tâm vị tha trong sáng – thánh thiện – thuần lương – thanh sạch.

Mỗi nhân sinh vào đời, ai nấy đều mang vát trên đôi vai của mình hai cuộc sống nặng trĩu. Một phần là vật chất, để tô bồi – thỏa mãn tiện nghi, ganh đua với tha nhân. Một phần là đời sống tâm linh, tâm linh là đức sống – là vốn sống. Tâm linh là nguồn năng lượng duy trì sự tồn tại vĩnh cửu của nhân loại. Hai cuộc sống này, phải được cân bằng trên đôi vai, bằng không chỉ là một con người dị tật – khập khiểng giữa đời thường, làm rối rắm xã hội.

Muốn có sự tồn tại chân giá trị hạnh phúc đích thực, không ngoài cái đức hạnh tối ưu. Có đức hạnh, mỗi nhân thân thị hiện được phẩm hạnh trong sinh hoạt đời thường, nêu cao được phẩm giá, từ đó nhà tù không còn phải mở cửa, hàng hàng trung tâm văn hóa giáo dục đạo đức hướng thượng GĐPTVN truyền thống được mở ra, từ đó, kỳ vọng đời sống dân sinh mỗi ngày thêm được phong quang – thanh bình – thịnh lạc.

GĐPTVN luôn luôn tích cực hướng tới một nền giáo dục khai phóng – vị tha – nhân bản, tiêu biểu –toàn diện, cần mẫn gieo trồng – chăm bón hạt giống đạo đức năng động – toàn thiện, thẩm thấu được nguồn phật chất thù thắng này, nhân sinh như được tưới tẩm – thấm đẫm sạch trong, góp phần tích cực thanh sạch môi sinh – tỏa sáng toàn cầu..
Nguyên Hoàng

Thứ Năm, 25 tháng 4, 2013

Ai là tác giả Huy hiệu Hoa Sen và bài ca Dây Thân Ái?


Về huy hiệu Hoa Sen:
Gia đình Phật Hóa Phổ do Cư sĩ Tâm Minh, tức Bác sĩ Lê đình Thám làm Phổ trưởng vào năm 1940. Huy hiệu Hoa Sen, trên năm cánh, dưới ba cánh, ra đời trong khoảng thời gian sau đó không xa.
Về bài ca Dây Thân Ái:
Bài ca Trại Áo Lam của Mạnh Cương, Mồng Tám Tháng Tư (Mừng Khánh Ðản) của Lê Mộng Nguyên, Sen Trắng (Bài ca chính thức của GÐPTVN) của Ưng Hội, Phạm Hữu Bình, Nguyễn Hữu Quán, Phật Giáo Việt Nam của Lê Cao Phan, Xuất Gia của Hoàng Lang, Ðoàn Liên Hương (Bài ca chính thức của Ðoàn Thiếu Nữ Phật Tử) của Hoàng Cang, Trầm Hương Ðốt của Bửu Bác&là những bài ca xuất hiện trong thời kỳ phôi thai của Gia Ðình Phật Tử. Hai bài ca thường được dùng trong sinh hoạt của Ðoàn, thứ nhất là bài Sen Trắng "Kìa xem đoá hoa trắng thơm, nhìn hào quang chiếu sáng trên bùn" là bài ca mở đầu cho buổi sinh hoạt thường xuyên hay định kỳ, thứ hai là bài Dây Thân Aùi "Dây Thân Ái lan rộng muôn nhà. Tay sắp xa nhưng tim không xa", hát lúc sắp chia tay, là những bài ca xuất hiện trong cùng thời kỳ nay vẫn còn làm vương vấn biết bao nhiêu kỷ niệm cho nhiều lớp tuổi. Bài Dây Thân Ái cho đến nay, rất nhiều người vẫn chưa biết ai là tác giả!
 Tác giả của huy hiệu Hoa Sen và bài ca Dây Thân Ái là Ông Lê Lừng, nay ngoài 80 tuổi.
Việc anh Lừng góp công sức sáng lập Gia đình Phật Hóa Phổ, khởi đầu từ miền Trung, theo anh, là do nhân duyên cả. Anh ấy vẽ huy hiệu hoa sen vào khoảng năm 1939 hay 40. Lúc bấy giờ, anh Lừng và Ông Lê đình Luân, con trai của Bác sĩ Lê đình Thám, là Hướng đạo sinh Ðoàn Ðinh Bộ Lĩnh ở Huế. Gia đình không cho anh gia nhập Hướng đạo. Không thực hiện được ý thích của mình, lại thêm bản tánh chuộng tự do, anh ấy bèn mua một chiếc xuồng nang khá rộng rãi sống như kiểu thoát ly gia đình. Ban đêm thì ngủ ở xuồng, ban ngày đi ăn cơm tháng, đi dạy học và viết bài cho Bác sĩ Lê đình Thám. Nghề tay trái lúc đó là Tốc ký viên nghiệp dư, viết bài hay viết kinh do Ông Thám đọc để hiệu đính lại và cho đăng trên báo Viên Âm. Tiền kiếm được do dạy học và viết bài cho báo.
Lúc đó, đời sống thật lãng mạn vô cùng. Ban đêm, còn gì sung sướng bằng, nghêu ngao giữa giòng Hương Giang lững lờ, cho thuyền trôi về Cồn Hến rủ vài đứa em cùng đoàn Hướng đạo đi ngược giòng nước rong chơi, hò hát trên sông, rồi ngủ thiếp trên xuồng khi nào không hay. Có khi, xuồng neo trên Huế, dây neo đứt từ hồi nào, xuồng nhẹ nhàng trôi qua Cồn Hến, đến một nơi nào xa lạ, sáng ngủ đậy mới hay, anh lại phải chèo ngược lên Huế. Cũng nhờ chiếc xuồng đó mà ngày ngày anh Lừng chèo lên Bến Ngự làm việc kiếm tiền, trưa chèo về dạy mấy em nhỏ. Các em nhỏ nầy là con nhà nghèo, con của giới cu ly xe kéo, của giới bán hàng rong, ngủ đường ngủ chợ, cù bơ cù bấc, nghèo đói. Anh đã dạy cho các cháu học, đặt bài hát tiếng Việt cho các cháu ca hát vào những đêm trăng.

Về sau, lụt trôi mất chiếc xuồng, anh Lừng phải đi bộ từ Ðập Ðá lên đến Bến Ngự để làm việc. Gia đình Bác sĩ Thám thấy anh Lừng sống lang bạt, bảo về sống chung trong gia đình. Trong gia đình Ông Thám, chiều nào cũng tụng kinh. Anh em trong nhà và các em nhỏ trong xóm cũng đến tụng kinh buổi chiều. Nhân dịp nầy anh Lừng bàn với con Ông Thám thành lập một đoàn hướng đạo rồi gọi là Hướng đạo Phật tử. Ý kiến nầy được Ông Thám chấp thuận nhưng thay vì lấy tên Ðoàn Hướng Ðạo Phật Tử thì lấy tên là Gia đình Phật Hóa Phổ. Nếu lập Ðoàn Hướng đạo thì phải xin phép thêm rắc rối, chi bằng cứ coi là đoàn của gia đình, phổ biến Phật học trong phạm vi gia đình thôi. Từ đó, Gia đình Phật Hóa Phổ Tâm Minh (Tâm Minh là pháp danh của Ông Thám) hoạt động, và Gia đình Phật Hóa Phổ là một tổ chức Gia đình Phật tử đầu tiên vậy.
Gia đình Phật Hóa Phổ có mục đích phổ biến đạo Phật, dạy cho các em nhỏ biết lòng tin chân chánh, theo đạo đúng đắn, không bị mê tín dị đoan làm mê lầm. Lần lượt các nơi khác ở Huế cũng thành lập theo mô thức đó, chẳng hạn như gia đình Ông Tôn thất Tùng ở Bến Ngự do Ông Ðinh văn Nam mà anh Lừng lúc đó gọi là anh Nam (nay là Hòa Thượng Thích Minh Châu) phụ trách, ở Vỹ Dạ có gia đình Ông Nguyễn khoa Toàn, ở Bến Ngự còn có gia đình Ông Nghè Khác. Chủ trương lúc đó là ngăn cấm không cho các em nói tiếng Việt pha tiếng Pháp, hễ nói tiếng Pháp thì phải nói nguyên câu. Những lần đi cắm trại gần Nam Giao như Tứ Tây, Trúc Lâm, Tây Thiên, hay trong các rừng Thông tại Huế, anh Lừng làm Trại trưởng. Khi về nhà anh ta viết một bài tả lại cuộc cắm trại đó và đăng trên báo.
Khi Ðoàn Phật Hóa Phổ đã đông, anh Lừng tự hỏi tại sao mình không có một huy hiệu đeo trước ngực như anh em bên Hướng đạo khi làm lễ tuyên thệ có đeo huy hiệu Hoa Huệ (fleur de Lis). Anh Lừng bèn tự ý vẽ ra, không bắt chước của ai, cũng không phải "do nằm mộng" thấy hoa sen, miễn sao đơn sơ và đẹp. Sau nầy có Ðoàn Phật Học Ðức Dục, gồm những vị có học thức mà muốn tìm hiểu thêm Phật giáo, cũng dùng huy hiệu hoa sen nầy nhưng thêm mấy chữ viết tắt PHÐD ở phía trên. Ðoàn Phật Học Ðức Dục gồm các em lớn tuổi hơn các em trong Gia đình Phật Hóa Phổ, do Bác sĩ Thám dắt dìu nhằm đào tạo thanh niên trí thức làm rường cột cho việc hoằng dương chánh pháp. Nhưng anh Lừng không ngờ sau khi rời khỏi Huế vào Nam làm Kiểm lâm, huy hiệu hoa sen lại được phổ biến khắp toàn quốc, nhất là miền Trung. Từ chùa chiền, đình miếu, hay trụ sở các Hội Phật học, cho đến các quan tài cũng trang trí hình hoa sen đó. Cũng trong thời gian trên, bài hát Dây Thân Ái ra đời cùng với nhiều bài hát khác.
Anh Lừng hiện nay cùng gia đình ở Gia Ðịnh nhưng dưới nhãn quan của anh, anh đã xuất gia. Bởi vì xuất gia là gì, theo anh, là ra khỏi ngôi nhà phiền não, chớ không có gì khác. Bỏ qua những gì canh cánh bên lòng, nhất là những việc trước mắt, không thể hay chưa thể thực hiện được. Việc gì có thể bỏ qua được cho nhẹ nhàng thì bỏ qua đi: không trách ai, giận ai, phiền ai cả. Giữ tấm lòng thanh thản nhẹ nhàng, quên đi những ân oán cũ, hay những phiền não cũ mà hiện nay thấy là vô ích. Nói chung, tránh phiền não.
                                                                                                                          Tâm Hảo Hồ Phùng

Chủ Nhật, 14 tháng 4, 2013

GIEO HẠT GIỐNG LÀNH


(GIÁO DỤC TRONG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ)


15 tháng 9, 2009


Lời biên tập: Khóa Hội Thảo Huynh Trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ được tổ chức tại miền Nam California từ 19-9-2009 đến 20-9-2009 với nội dung: “Giáo Dục Trong Gia Đình Phật Tử”. Diễn giả trong khóa hội thảo là TT. Thích Từ Lực, ĐĐ. Thích Đạo Quảng và GSTS. Trần Kiêm Đoàn. Sau đây là bài tham luận của diễn giả TKĐ trình bày trong hội nghị.


Thêm một em oanh vũ
Gieo một hạt giống lành
Tươi mới đóa sen xanh
Nhú trên đài hoa cũ.
Thơ N.T
Từ nguồn gốc, Gia Đình Phật Tử Việt Nam (GĐPT) là một tổ chức giáo dục. Một hệ thống giáo dục đặt căn bản trên tinh thần Từ Bi, Trí Tuệ và Dũng Mãnh (Bi,Trí, Dũng) của đạo Phật. Trong lịch sử gần 60 năm, GĐPT là một biểu tượng linh động cho thế hệ trẻ trong các sinh hoạt chùa chiền tự viện. Đó là đội ngũ của những người tuổi trẻ Phật tử từ tuổi ấu thơ (ngành oanh) cho đến thanh thiếu niên (ngành thiếu). Dù ở trong bất cứ cấp độ nào, giáo dục vẫn là phương tiện nòng cốt để xây dựng và phát huy một tổ chức hay đoàn thể có kỷ cương.

I. Nhìn lại đường lối giáo dục truyền thống trong GĐPT.

Lần đầu tiên, lễ Phật đản năm Ất Hợi (10/05/1935) do Hội An Nam Phật học tổ chức rầm rộ tại Huế. Và đây cũng là lần đầu, tuổi trẻ chính thức được tham gia lễ Phật với một tư thế riêng chứ không phải chỉ là bóng mờ quen thuộc của các em bé lẽo đẽo theo bà ngoại đến chùa. Có tất cả 52 “em”, đồng phục tươm tất, đi theo hàng ngũ chỉnh tề trong đoàn rước Phật, mang hoa sen, vừa đi vừa hát theo điệu Đăng đàn cung với bài hát: "Vui mừng gặp ngày nay mồng 8 tháng tư. Ngày khánh tiết, Phật Thích Ca ngài, hiện về Ca Tỳ La Vệ...". Hiện tượng tuổi trẻ giữa đời, sống đạo bằng con ngườì thật đã cuốn hút sự quan tâm của thế hệ đàn anh. Một vấn đề mới mẽ bắt đầu thành hình: Tuổi trẻ với Phật giáo.
Ngày 10-08-1938, trong bài diễn văn khai mạc đại hội thường niên của hội An Nam Phật học, ông hội trưởng Lê Đình Thám đã xác định: "Không có một thành tựu vững bền nào mà lại không nhắm đến hàng ngũ thanh thiếu niên. Các em sẽ là những người tiếp nối chúng ta trong ngày mai...". Hai năm sau, năm 1940, Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục (TNPHĐD) ra đời với sự bảo trợ của Hội An Nam Phật học và sự hướng dẫn trực tiếp của một Phật tử có uy tín hàng đầu về kiến thức Phật học uyên bác và tinh thần cải cách cấp tiến là bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Bước đầu, đoàn TNPHĐD quy tụ được một lực lượng nhân sự uy tín và hùng hậu với sự tham gia nhiệt tình của các anh: Phạm Hữu Bình (đoàn trưởng), Đinh Văn Nam (đoàn phó), Ngô Điền (thư ký), Võ Đình Cường, Ưng Hội, Tráng Thông, Đinh Văn Vinh, Ngô Thừa, Nguyễn Hữu Quán, Nguyễn Khải, Lê Kiểm, Phạm Quy, Hoàng Ngọc Phu, Lê Đình Duyên, Lâm Công Định...
Đoàn TNPHĐD đã nổi bật trong sinh hoạt Phật giáo đương thời vì “tuổi trẻ hành đạo” vừa là một hình ảnh tiền phong, vừa là một khái niệm rất tươi mới, sinh động, trẻ trung và cuốn hút trong sinh hoạt tôn giáo vốn từ lâu được xem là chỉ quy tụ toàn các bậc cao niên trưởng thượng. Đoàn đã thành lập cơ sở văn hóa Phật giáo cho tuổi trẻ đầu tiên tại nước ta với sự ra đời của Phật Học Tùng Thư. Các tác phẩm về tuổi trẻ và đạo Phật có giá trị được xuất bản như: Thanh Niên Đức Dục của Đinh Văn Nam, Phật Giáo và Thanh Thiếu Niên Đức Dục của Phạm Hữu Bình, Đời Vui của Ngô Thừa, Nghĩa Chữ Nho của Nguyễn Hữu Quán, Ánh Đạo Vàng của Võ Đình Cường… Song song với sinh hoạt văn hóa, các chương trình sinh hoạt tập thể năng nỗ và phong phú cũng được xây dựng như: Hoạt động thanh niên, giáo dục Phật pháp, Phật học thực hành…
Nhu cầu tổ chức, đoàn ngũ hóa mang tính giáo dục cho tuổi trẻ Phật tử trở thành một nhu cầu thời đại trong sinh hoạt Phật giáo Việt Nam. Lễ Phật đản năm 1944 tại đồi Quảng Tế - Huế, các đơn vị thanh niên Phật học, Hướng đạo Phật giáo, Đồng ấu Phật học... họp đại hội và khai sinh tổ chức Gia Đình Phật Hóa Phổ. Đó là tiền thân của Gia Đình Phật Tử ngày nay. “Phật hóa phổ” nói một cách nôm na là đem đạo Phật đến với mọi người. Với tuổi trẻ là giáo dục Phật học cho thế hệ đàn em. Bốn Gia đình Phật Hóa Phổ đầu tiên được thành lập tại Huế là Gia đình Tâm Minh, Tâm Lạc, Thanh Tịnh và Sum Đoàn do các cư sĩ Lê Đình Thám, Phạm Quang Thiện, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Hữu Tuân làm Phổ trưởng. Về mặt giáo dục Phật học, các huynh trưởng tiền phong là các nhà giáo, nhà văn có tinh thần và kiến thức Phật học vững vàng. Các anh đã phụ trách hai phần chính là: Soạn thảo tài liệu giáo khoa và huấn luyện giảng dạy. Về mặt hoạt động thanh niên, các huynh trưởng đầu tiên trong đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục phụ trách hướng dẫn sinh hoạt theo mô thức của Hướng Đạo Sinh thế giới. Hệ thống Gia Đình Phật Hóa Phổ càng ngày càng lớn mạnh theo đà phát triển của đạo Phật trong cả nước.
Gia Đình Phật Tử Việt Nam được chính thức thành lập. Đại hội Gia Đình Phật Hóa Phổ tổ chức tại Huế vào 3 ngày 24, 25 và 26 tháng 4 năm 1951 tại chùa Từ Đàm Huế với sự tham dự của đại biểu từ Bắc vào Nam gồm có: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Lâm Viên, Bình Thuận, Đồng Nai. Đại hội đã đồng thuận chọn một danh xưng thống nhất, do các huynh trưởng tiền phong là các anh Đinh Văn Nam, Ngô Thừa, Võ Đình Cường, Phạm Hữu Bình, Võ Hữu Quán đề nghị. Đó là tên gọi GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM chung cho Gia Đình Phật Hóa Phổ và các tổ chức thanh niên, hướng đạo, đồng ấu Phật tử… đang còn trong giai đoạn sơ khai.
Năm 1953, khi đại hội Gia Đình Phật Tử Việt Nam lần thứ hai được triệu tập tại Huế, với sự tham dự đông đảo và rộng khắp của các đại biểu 3 miền Trung, Nam, Bắc thì tổ chức GĐPT mới thật sự đi vào nề nếp ổn định, kiện toàn tổ chức. Đại hội đã soạn thảo chương trình tu học cho các ngành, các cấp, thống nhất hình thức, tổ chức, đồng phục, huy hiệu, phù hiệu...
Gia Đình Phật Tử Việt Nam từ đó tồn tại và phát triển theo lịch sử thăng trầm của đạo pháp và dân tộc. GĐPT về chiều sâu cũng như chiều rộng đã thật sự trở thành một “gia đình tâm linh” của tuổi trẻ Phật tử Việt Nam. Từ năm 1975 đến nay, một số các thành viên cũ và mới của GĐPT Việt Nam cũng có mặt trong những đợt người Việt đi ra nước ngoài. Sau một thời gian ngắn tan tác và chao đảo theo hoàn cảnh mới ở nước ngoài, các huynh trưởng và đoàn sinh GĐPT đã nhanh chóng tập hợp lại trong mỗi địa phương có sinh hoạt chùa chiền, tự viện, tăng ni và Phật tử. Những đơn vị GĐPT bắt đầu tái hình thành và phát triển bất cứ nơi đâu có quý tăng ni, Phật tử và chùa chiền ở khắp các nước trên thế giới.
Trong hoàn cảnh xã hội còn xa lạ ở nước ngoài với một địa bàn cư trú quá rộng rãi, bao la, trải dài từ Á sang Âu, tổ chức GĐPT Việt Nam phải đối diện với những thử thách mới chưa từng có trước đây.
Bên cạnh hoàn cảnh riêng, đạo Phật và GĐPT Việt Nam còn phải đương đầu với những thử thách chung. Đó là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và môi trường truyền thông đại chúng đã làm thay đổi môi trường sống cùng tri thức và tâm lý con người quá nhanh chóng.
Trong khoảng thời gian 30 năm qua, GĐPT Việt Nam đã có nhiều cố gắng vừa để hội nhập với điều kiện và hoàn cảnh mới; vừa nỗ lực vươn lên để khỏi bị lão hóa, lạc hậu, xa rời thực tế. Thế nhưng hạt giống bồ đề, tuy có đâm chồi nẩy lộc, nhưng bóng mát hành đạo vẫn còn bị lay động qua nhiều gai góc. Tình trạng phân biệt, phân hóa, phân vùng, phân tổ chức… đã xảy ra và vẫn còn dậm chân tại chỗ. Trong những phương kế khả thi, ngỏ hầu giảm thiểu được thực trạng tiêu cực đang trở thành “chướng duyên” cho tuổi trẻ Phật tử trên đường tu học, giáo dục vẫn là nền tảng vững chắc để làm chỗ dựa cho thế hệ Phật tử đàn anh dùng để nuôi dưỡng và uốn nắn thế hệ đàn em.
 
II. Đặc tính tiêu biểu của một nền giáo dục theo tinh thần Phật giáo.

Tôn giáo nói chung là một hệ thống giáo dục khép kín hay mở rộng dựa trên một hệ thống lý thuyết hay triết lý nào đó đã trở thành đức tin và chỗ dựa tạm linh. Đó thường là lời dạy có giá trị thiêng liêng và đầy tôn kính nhất của một đấng chí tôn mà người theo tôn giáo đó tin tưởng và tôn thờ. Giáo dục đời thường mang ý nghĩa tri thức và thực dụng phục vụ cho đời sống hiện thực. Giáo dục tôn giáo mang ý nghĩa đức tin và hành đạo phục vụ cho đời sống tâm linh. Bởi vậy, vì yếu tính khác nhau nên phương tiện cũng khác nhau. Khác nhau giữa thế giáo và tôn giáo đã đành; nhưng ngay trong lĩnh vực thuần túy tôn giáo vẫn hoàn toàn khác nhau từ tôn giáo nầy đến tôn giáo khác. Thậm chí, có khi trái ngược nhau như nước với lửa; tùy theo cách nhìn về mối tương quan của con người với vũ trụ (vũ trụ quan), về cách nhìn thế giới (thế giới quan) và cách nhìn con người (nhân sinh quan). Hầu như mỗi tôn giáo đều có một đấng tiên tri thay mặt cho Thượng Đế tới cõi trần gian để làm các vị giáo chủ như: Đức chúa Jesus Christ (đạo Chúa), Abraham (đạo Do Thái), Muhammed (đạo Hồi), Vishnu (đạo Hindu, Ấn độ)… Chỉ có đạo Phật là tìm thể tính (be, essence, nature) của con người ngay trong sự hiện hữu của chính nó – duy ngã độc tôn – để xác định và giải quyết vấn đề hệ lụy nhân sinh và giải thoát giữa cuộc đời nầy. Bởi vậy, giáo dục trong Phật giáo không phải là một sự rao giảng mang tính tẩy não hay phải áp dụng những nguyên tắc lý thuyết đầy áp đặt mà đấy là một quá trình rèn luyện nhân cách từ u tối, mù mờ (vô minh, tà) đến chỗ sáng suốt, hiểu rõ (trí tuệ, chánh).
Giáo dục là một sự nghiệp có hai vế rõ ràng: Giáo (dạy dỗ) và dục (nuôi dưỡng). Với quan niệm thông thường thì hễ có người dạy, tất phải có kẻ học. Học để khỏi dốt (Dĩ học dũ ngu). Nhưng khái niệm “học” trong đạo Phật không hẳn là theo ý niệm thông thường ngoài đời. Truyền đạt không phải lúc nào cũng dùng tới lời nói; tiếp thu không phải lúc nào cũng qua trung gian dạy và học. Tăng đoàn thời Phật còn tại thế bao giờ cũng bao gồm hai đối tượng: Các bậc hữu học và các bậc vô học. “Hữu” và “vô” ở đây không mang ý nghĩa là “có” (tích cực) và “vô” (tiêu cực) trong khái niệm giáo dục đời thường. Các bậc vô học đã tu tiến và chứng ngộ không qua phương tiện giáo dục theo hình thức thông thường. Bởi thế, cái “học” cao nhất trong Phật giáo là sự quán niệm và chứng ngộ trực tiếp. Nhiều trường hợp vẫn là “không thầy riêng mầy làm nên” (vô sư tự ngộ). Các bậc thánh tăng như Lục Tổ Huệ Năng, tuy mù chữ đời thường, nhưng tri thức giác ngộ cốt tủy của đạo Phật thì vô cùng uyên áo.
Thời cận đại, đạo Phật Việt Nam đã đầu tư vào giáo dục tuổi trẻ qua một hệ thống trường ốc tiêu chuẩn và các viện Phật học. Hệ thống trường Bồ Đề nhắm vào một nền giáo dục phổ thông và đại chúng. Các học viện Phật học ở Huế, Nha Trang, Đà Lạt, Sài gòn, Hà Nội… nhắm vào việc giáo dục các học tăng, học ni còn trẻ. Hệ thống trường tiểu và trung học Bồ Đề mở rộng khắp các tỉnh miền Nam thường được xem là tiêu biểu cho khuynh hướng giáo dục Phật giáo. Thật ra, trường Bồ Đề nổi lên như một thương hiệu giáo dục có ít nhiều liên quan đến sinh hoạt Phật giáo hơn là mang bản chất giáo dục Phật giáo. Tuy rằng, trường Bồ Đề có giảng dạy một số giờ giáo lý song song với giáo trình theo tiêu chuẩn phổ thông; nhưng mục tiêu rốt ráo của nhà trường vẫn là đào tạo học sinh thi đỗ, vào đời như tất cả các trường tư nhân và công lập khác. Hoặc cao hơn trong hệ thống giáo dục Phật giáo là viện đại học Vạn Hạnh, nơi quy tụ tăng ni danh tiếng và giới học giả hàng đầu của miền Nam một thời, thì vẫn còn nằm trong quỹ đạo của một nền giáo dục khoa bảng hơn là thoát xác thành một đại học Phật giáo chuyên ngành như tinh thần đại học Nalanda, một đại học Phật giáo quốc tế có quy mô đồ sộ đầu tiên được xây dựng từ thế kỷ thứ 5 (427) tại bắc Ấn Độ. Ngày nay, các đại học Phật giáo thế giới như đại học Quốc Tế ITBMU (Miến Điện), đại học Buryatia (Nga), đại học Maha-Chulalongkora (Thái Lan), đại học Chi-nan (Đài Loan), đại học Nagarjuna (Ấn Độ)… đều là những trường đại học chuyên về Phật học. Tín chỉ, chứng chỉ và bằng cấp của những trường nầy được hệ thống giáo dục quốc tế công nhận trong việc trao đổi sinh viên ngành Nhân chủng Xã hội (Humanities and Social Sciences) giữa các nước. Tại Việt Nam, từ năm 2007, đã có tin đặt đá xây dựng đại học Phật giáo Quảng Đức gần Sài gòn. Nhưng đến nay vẫn chưa nghe tin khánh thành và khai giảng.
Truyền thống và hệ thống giáo dục Phật giáo đại chúng và học viện vừa trình bày ở trên, không đóng một vai trò trực tiếp và thương xuyên đối với vấn đề giáo dục trong sinh hoạt của GĐPT Việt Nam 60 năm qua. Sinh hoạt của GĐPT hằng tuần có một hệ thống hàng dọc riêng từ Ban Hướng Dẫn trung ương đến từng đơn vị GĐPT chùa chiền, khuôn hội. Giáo hội và quý tăng ni đóng vai trò cố vấn tổ chức và cố vấn giáo hạnh. Lịch sử và kinh nghiệm thực tế đã chứng minh rằng, sức mạnh và tinh hoa của GĐPT Việt Nam chỉ phát huy rộng khắp, sinh động và hài hòa nhất từ thành thị đến nông thôn là khi chỉ có một ban hướng dẫn trung ương, một hệ thống tổ chức và một tiếng nói hòa hợp từ phía quý thầy, sư cô làm cố vấn giáo hạnh đến quý anh chị huynh trưởng và các cư sĩ thiện tri thức hỗ trợ. Không có chính trị đời thường xen vào lãnh đạo hay lãnh đạo xen vào chính trị.
 
III. Thử mạn đàm về một phương thức giáo dục thích hợp.
 
Không riêng gì tuổi trẻ trong tổ chức GĐPT Việt Nam mà tuổi trẻ cả nước và trên toàn thế giới nói chung, đang bước vào một thế giới mới của thế kỷ 21. Giềng mối và cấu trúc của gia đình, dòng họ, quý tộc, tên tuổi, danh thơm… của những thế kỷ trước đang bị lung lay hay thử thách trước một sự thay đổi chưa từng thấy do cuộc chạy đua tốc độ về những phát minh ngày một mới lạ trong nhìều lĩnh vực: Khoa học kỹ thuật, truyền thông đại chúng, giao thông vận tải, y tế xã hội, giáo dục đào tạo.
Trong bảng thang giá trị mới (new value system), tuổi trẻ thường xuyên đối diện và bị thách thức giữa hai cặp phạm trù mới/cũ khác nhau hay có khi trái ngược nhau. Riêng đoàn sinh GĐPT Việt Nam, không nhiều thì ít, vẫn đứng bâng khuâng giữa hai quan niệm sống như hai dòng nước cần phải chọn lựa vì nước đang trôi xuôi:
- Tâm linh hay vật chất
- Cá nhân hay tập thể
- Lý tưởng hay thực dụng
- Cảm tính hay lý tính
- Cầu nguyện hay hành động
- Vì ta hay vì người
- Chấp ngã hay phá ngã…
Những cặp nhị nguyên tốt/xấu đối đãi cứ như thế kéo dài. Tuổi trẻ hoang mang buông thả hay nắm bắt một khái niệm giá trị vừa thích hợp, vừa đúng đắn không phải là điều đơn giản. Dưới sức ép xảy đến chớp nhoáng tưởng chừng như tự nhiên từ phía xã hội, gia đình, tâm lý… khiến tuổi trẻ chỉ còn biết phản ứng. Nhưng biết dựa vào đâu để có phản ứng thích hợp, khỏi bị lạc đường và giảm thiểu tai họa va chạm giữa cuộc đời muôn mặt nầy? Câu trả lời là: Giáo dục. Giáo dục phải được quan niệm và sử dụng như một ngọn đèn định hướng, giúp tuổi trẻ có một phương tiện tương đối an toàn trên đường dò dẫm tiến bước vào tương lai.
Vai trò giáo dục trong GĐPT không nhằm thay thế cho chương trình giáo dục phổ thông ngoài đời. Vì vậy, mục đích, nguyên tắc và phương thức giáo dục cần phải được soạn thảo, truyền đạt, ứng dụng linh động và thích hợp theo đối tượng và hoàn cảnh cụ thể:
1. Mục đích giáo dục:
Mục tiêu giáo dục trong GĐPT là nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân tốt của đất nước mình đang ở và những Phật tử chân chính. Giáo dục là quá trình xây dựng thế hệ trẻ về cả 4 mặt: Khởi lòng từ bi, trau giồi trí tuệ, luyện ý chí dũng mãnh và giữ được tinh thần khiêm tốn nhẫn nhục.
Hình ảnh người Phật tử chân chính của thế hệ nầy là một người đơn giản, hiểu biết, có tấm lòng nhân hậu và tư cách ngay thẳng. Đó là người có cuộc sống ổn định, có nghể nghiệp lương thiện để sinh tồn; có kiến thức Phật học cơ bản để suy nghĩ và thực hành trong đời sống; có tinh thần cầu tiến bộ và hiểu rõ chính mình để tinh tấn; biết mình là ai trong mối tương quan giữa cá nhân, gia đình, dân tộc và đạo pháp để hòa điệu sống.
Mục đích giáo dục trong sinh hoạt GĐPT không chủ yếu nhắm vào sự thành công theo quy ước đời thường như học vị, thăng chức, xếp loại, so sánh… mà cơ bản là hướng về sự thành nhân. Một bác sĩ lành nghề, có đông khách là ví dụ điển hình về sự thành công của việc học hành ngoài đời. Một cư sĩ đức hạnh, giúp được nhiều người tu học; một đoàn sinh GĐPT gương mẫu về nhiều mặt là ví dụ điển hình về sự thành nhân của việc học hành trong đạo. Phân định rõ ràng giữa mục đích đào tạo thành công và thành nhân sẽ giúp người soạn thảo chương trình và sách giáo khoa, cũng như giúp người giảng dạy chủ động chọn lựa nội dung và đường lối thích hợp.
Xa hơn thế nữa, xác định được rõ ràng mục đích của giáo dục trong sinh hoạt GĐPT để thấy rõ vấn đề nhằm chấm dứt (hay ít nhất là giảm thiểu) các hoạt động giáo dục dính mắc vào tính chất vụ hình thức, cổ xúy sự cạnh tranh ích kỷ và cục bộ. Sự cạnh tranh hình thức này thường là nguyên nhân chính của sự phân hóa, chia rẽ giữa các đơn vị GĐPT sinh hoạt gần nhau.

2. Nguyên tắc giáo dục:

Mỗi lĩnh vực giáo dục chuyên môn đều có nguyên tắc thích ứng riêng cho lĩnh vực đó. Giáo dục trong GĐPT Việt Nam dựa trên những nguyên tắc lý thuyết cơ bản của đạo Phật. Bi, Trí, Dũng là nguyên tắc hành xử của GĐPT. Tuy nhiên, qua quá trình giảng dạy, học tập và thực hành, tinh thần Bi, Trí, Dũng thường được hiểu một cách máy móc và diễn dịch giới hạn nên chưa phát huy được tác dụng trong nhiều hoàn cảnh và thời đại mới như hiện nay.
Cần minh định lại nội dung Bi, Trí, Dũng áp dụng cho GĐPT.
Bi: Là Từ Bi. Lòng từ bi là tình thương không phân biệt của đạo Phật. Người có lòng từ bi lấy đôi mắt thương yêu nhìn cuộc đời. Tình thương xuất phát từ lòng từ bi không phải là một sự ban phát tình cảm thương hại của một người đứng trên tư thế cao hơn hay hạnh phúc hơn nhìn xuống kẻ bất hạnh bên dưới. Từ bi là một sự cảm thông và chia sẻ bình đẳng, nhìn người được giúp với lòng trân trọng như nhìn một vị Phật tương lai. Tuổi trẻ trang bị lòng từ bi sống đơn giản và chân thành với chính mình và với ngươi khác. Đi xa hơn trong quan hệ sinh hoạt tập thể, tuổi trẻ có lòng từ bi không phân biệt ta với người, đơn vị mình với đơn vị bạn. Do đó, luôn luôn có sẵn một tinh thần hiếu hòa và hóa giải; không chê của người, không khen của ta. Sự thống nhất GĐPT không bắt nguồn từ hình tướng phía nầy hay phía khác mà phải có cội nguồn từ lòng từ bi. Càng phân biệt, chỉ trích, phê phán nhau thì càng xa nhau và đào sâu thêm sự phân hóa. Càng tao ra sự kỳ thị, đương đầu, thách thức thì lòng từ bi càng nghèo nàn và vắng bóng. Bởi vậy, trong giáo dục GĐPT, nguyên tắc Từ Bi là nguyên tắc cơ bản của tâm hồn
cần phải được nhắc nhở và thực hành thường xuyên trong mọi hình thức suy nghĩ, cư xử và sinh hoạt.
Trí: Là Trí Tuệ. Trí Tuệ sáng suốt không giới hạn của đạo Phật.
Nhà Phật phân biệt hai loại trí tuệ: Trí hữu sư và trì vô sư . Trí tuệ hữu sư có được do kiến thức tích lũy qua quá trình nghe, suy tư và tu theo lời dạy của bậc làm thầy hay thiện hữu tri thức (Văn-Tư-Tu). Trí vô sư là trí tuệ tự mình phát khởi do chính mình cố công nghiêm trì giới luật và giữa tâm an định (Giới-Định-Huệ).
Trí tuệ tuổi trẻ trong GĐPT cần cả hai để có được cái nhìn bao quát và sâu sắc; sẵn sàng mở rộng tầm nhìn để đón nhận và học hỏi cái mới. Tuy nhiên, nếu cứ khư khư bảo thủ cái cũ hay nhắm mắt chạy hùa theo cái mới là hai trường hợp cực đoan của sự thiếu vắng trí tuệ. Trong một xã hội mà bộ mặt “văn hóa thế giới” đang thay đổi nhanh chóng từng giây, từng phút về khoa học kỹ thuật, về phương tiện truyền thông và giao lưu như hiện nay, tuổi trẻ cần phải được giáo dục về trí tuệ giải thoát của đạo Phật. Đạo Phật lấy trí tuệ giải thoát làm căn bản. Tất cả đều là phương tiện để đạt mục đích cuối cùng là sự an lạc trong cuộc sống và lý tưởng giải thoát. Tuổi trẻ thường xuyên bị dính mắc với phương tiện mà quên cứu cánh như ngồi trên chiếc xe êm dịu mà không biết về đâu hay ngồi suốt ngày trên máy vi tính chỉ để vui chơi như người ham mê cờ bạc là có phương tiện tốt mà không có mục đích, lý tưởng giải thoát rõ ràng.
Dũng: Là Dũng Mãnh. Dũng Mãnh là tinh thần vô uý (không sợ hãi), vượt thắng những chướng ngại, khai quang con đường phải đi và vững vàng tiến tới. Đó là sự tinh tấn của người Phật tử. Dũng mãnh không đồng nghĩa với thái độ xốc nổi mù quáng, lăn xả vào mọi sự hiểm nguy không đúng lúc, chỉ biết tiến tới mà không biết lùi. Đương đầu với bạo lực vô minh hay xông pha vào hang hổ đói không phải là dũng mãnh mà là vọng động cuồng điên. Giáo dục thế hệ trẻ về tinh thần dũng mãnh là phải biết tiến tới hay thoái lui đúng lúc. Tinh thần dũng mãnh của đạo Phật thể hiện bằng sự quán sát kỹ càng, hành xử quyết đoán đúng lúc; làm điều phải không sợ hãi; can đảm chấp nhận cái sai đề sửa đổi (sám hối); không để sự bất tịnh, sai trái, mê hoặc của lòng tham dục và tà kiến của ma vương lôi kéo quật ngã.
Xin thêm một đề nghị:
Trong 3 nguyên tắc giáo dục của tinh thần Bi, Trí, Dũng có một sự mặc nhận (hiểu ngầm) không có lợi cho vấn đề giáo dục tuổi trẻ, đó là nguyên tắc thứ 4: Khiêm. Khiêm Nhẫn là khiêm tốn và nhẫn nhục mà các bậc thức giả thường cho rằng, tính khiêm nhẫn được “mặc nhiên gói ghém” trong Bi, Trí, Dũng vì một khi đã có tình thương, trí tuệ, dũng mãnh thì sự khiêm tốn và nhẫn nhục tự động xuất hiện. Trên thực tế, sự suy diễn nầy đi quá xa ngoài tầm tay với của tuổi trẻ. Với tuổi trẻ, những nguyên tắc nào hợp với khế cơ hay khế lý cần phải được ghi nhận và minh định rõ ràng. Vì vậy, trên nguyên tắc giáo dục GĐPT, xin được đề nghị là: Bi, Trí, Dũng, Khiêm. Trong vài ba thập niên gần đây, hiện tượng người Phật tử Việt Nam, nhất là tuổi trẻ Phật tử đã có những biểu hiện sa sút về đức khiêm tốn và nhẫn nại. Đó là sự phân hóa giữa các đơn vị GĐPT. Thế hệ đàn anh có khuynh hướng cường điệu và quá chấp chặt với quá khứ. Thế hệ đàn em phản kháng quay lưng để nhìn về hiện tại và tương lai. Thái độ khiêm nhẫn trong nội bộ đã khó; sự khiêm nhẫn trong quan hệ bên ngoài có vẻ còn khó hơn. Phát huy đức tính khiêm nhẫn tức là trực tiếp tạo ra sự tôn trọng hai chiều, biết chịu khó lắng nghe, cẩn trọng trong việc ra chỉ thị, quyết định gây chia rẽ không cần thiết. Áp dụng thêm nguyên tắc khiêm nhẫn trong giáo dục là góp phần tích cực hàn gắn và hóa giải sự phân hóa đang làm đau lòng mọi Phật tử có đạo tâm trong hoàn cảnh hiện nay,
3. Phương thức giáo dục:
Mỗi phương thức giáo dục đều có một tác dụng với từng đối tượng đặc biệt. Phần sau đây, thử góp ý, phân tích và chia sẻ những nét tiêu biểu về một đường hướng giáo dục tương đối thích hợp và cần thiết nhất là có thể áp dụng được (khả thi) cho tuổi trẻ và gia đình Phật tử Việt Nam trong hoàn cảnh cụ thể trước mắt.
Giáo dục truyền thống trong đạo Phật có rất nhiều hình thái khác nhau tùy theo hoàn cảnh, trình độ và căn cơ của người theo học (pháp dùng phương tiện). Tuy nhiên, các hình thức thông thường nhất là:
- Trí giáo hay ý giáo: Dạy dỗ và truyền đạt bằng kiến thức trong sách vở và kinh nghiệm thực tiễn trong đời sống.
- Ngôn giáo hay khẩu giáo: Dạy dỗ và truyền đạt bằng lời giảng giải, thuyết phục; khuyên bảo trực tiếp bằng lời nói.
- Đức giáo: Dạy dỗ và truyền đạt bằng chính tấm gương trong sáng về cuộc sống đạo đức và hạnh lành của bậc làm thầy.
- Thân giáo: Dạy dỗ và truyền đạt bằng hành động bản thân của người thầy có đầy đủ các biểu tượng của từ bi, trí tuệ, dũng mãnh và khiêm nhẫn.
Thân giáo là một phương thức giáo dục quan trọng nhất trong các phương thức giáo dục Phật giáo.
Thân giáo có hai mức độ: Tự thân giáo và thọ thân giáo.
Tự thân giáo là chính bản thân mình tự trau giồi kiến thức, nhân cách, quán niệm, điều tâm, tu dưỡng để chuyển hóa thân tâm theo đường chánh đạo. Người tự thân giáo nương cậy chính vào tự lực, phát huy sức mạnh nội tại của chính mình. Tự thân giáo đòi hỏi người thực hành có một năng lực tập trung và tinh thần tự giác cao độ.
Thọ thân giáo là thu thập và học hỏi qua nhân cách, đạo hạnh, uy vệ của người thuyết giảng. Trong GĐPT, hình ảnh của thầy cô cố vấn giáo hạnh, của bác gia trưởng, của quý anh chị trong ban Huynh trưởng đóng một vai trò thân giáo rất quan trọng trong việc giáo dục các em. Người giảng dạy dẫu có kiến thức phong phú , lời nói hay ho đến mức nào mà phong cách không trang nghiêm, tên tuổi không trong sáng, lời nói không đi đôi với việc làm thì làm sao có đủ sức chứng minh, thuyết phục và và chuyển đổi được đối tượng nghe giảng. Trong giáo dục, thân giáo được xem là chuẩn mực, là quy phạm để người giảng dạy tự suy xét chính mình. Một anh chị huynh trưởng GĐPT mang tai tiếng thì làm sao cầm còi, hướng dẫn các em đoàn sinh là điều hay lẽ phải. Kẻ nói năng thiếu xác tín, lên tiếng khuyên đàn em phải làm điều lành, tránh điều dữ trong lúc bản thân mình là đối tượng phạm pháp, mang tai tiếng tranh quyền đoạt vị, mất uy tín với gia đình và xã hội thì thật là điều mỉa mai và phản tác dụng với thế hệ đàn em. Nếu thân không nghiêm, hành động thiếu quang minh chính đại thì mọi lời nói và việc làm đều không có giá trị đạo đức và giáo dục. Đức Phật đã dạy trong kinh Pháp Cú rằng:
Trước nhất tự luyện mình
Đạo hạnh thành chân chính
Sau mới giáo hóa người
Thân trí đồng tương kính
Sống là học tập. Giáo dục xuất hiện dưới nhiều dạng thức. Giáo dục trong GĐPT là một quá trình tổng hợp của chư tăng ni, đại chúng Phật tử, gia đình đoàn sinh và GĐPT. Nguyên tắc phương thức giáo dục nào cũng đều có thế mạnh và thế yếu. Nhưng trên tất cả vẫn là thế đứng và sự kế thừa của thế hệ trẻ trong lòng đạo pháp và dân tộc trong khi thế hệ già đang từ từ vắng bóng theo luật tự nhiên.

IV. Đề nghị một sự chấn chỉnh cấp thời.

Trước khi GĐPT chính thức ra đời, trước năm 1945, đạo Phật tại Việt Nam là một tôn giáo của các bậc cao niên, trưởng thượng. Phật giáo dần dần bị lão hóa. Chùa chiền là việc của chư tôn đức và của các ông già bà lão!
GĐPT Việt Nam đã làm cho đạo Phật Việt Nam sinh động với một hình ảnh mới: Tuổi trẻ hành đạo. Tuổi trẻ đã cùng với tuổi cao niên đi chùa, lễ bái, làm Phật sự, tu học.
Tuy nhiên, trong khung cảnh chùa chiền, tự viện tôn nghiêm cộng với truyền thống văn hóa gia trưởng phụ quyền lâu đời, tuổi trẻ Phật tử chưa phát huy được thế chủ động cần thiết của mình. Tình trạng “thầy đâu trò đó” đã làm cho tuổi trẻ Phật tử không vươn lên khỏi vai trò chỉ để “trang hoàng” và phụ thuộc trong các sinh hoạt chùa chiền. Thực trạng càng xót xa hơn khi tuổi trẻ Phật tử tươi mát và hồn nhiên bị thế hệ đàn anh lợi dụng. Trong những năm qua, không ít đơn vị GĐPT đã bị giới đàn anh cầm đầu lèo lái và sử dụng vào những hoạt động phi Phật giáo như chính trị, kinh tế, xã hội.
Nếu đi sâu vào chuyên môn, không ai có thể chối bỏ được sự thật rằng, hoàn cảnh đã đổi thay, tri thức tuổi trẻ hiện đại cùng lứa tuổi đã tăng lên nhiều lần so với tuổi trẻ thời tiền chiến (1930-1945). Tâm lý tuổi trẻ của thời kỳ kinh tế thị trường và văn hóa thế giới cũng đã chuyển đổi mãnh liệt: Độc lập, mạnh dạn, tích cực và chủ động hơn xưa. Thế nhưng, trong sinh hoạt nội bộ của GĐPT, những nguyên tắc và lề lối sinh hoạt “truyền thống” không thay đổi kịp với tốc độ thực tế. Lề lối sinh hoạt có nơi, có chỗ đã quá lỗi thời, không còn thích hợp cho nhu cầu tri thức và tâm lý thực tế của tuổi trẻ Phật tử muốn tinh tấn tu học.
Xin đơn cử một số vấn đề tồn tại tiêu biểu:
- Về Phật pháp: Chương trình Phật pháp được các bậc huynh trưởng tiền phong soạn thảo hơn 50 năm qua mang đậm tính quốc văn giáo khoa thư và ứng dụng phương pháp truyền thụ kiến thức thụ động một chiều vẫn không có gì thay đổi, cập nhật.
- Về kinh sách: Chỉ nói đến những nghi thức tụng niệm đơn giản dùng hằng ngày mà thôi thì cũng đã thiếu sự thống nhất giữa các chùa và các đơn vị. Văn cổ học chữ Hán tối tăm khó hiểu xen lẫn với văn thuần Việt dịch nghĩa chưa được hoàn thiện trong các kinh sách hiện dùng là một vấn đề thiếu sót và cản trở nghiêm trọng trong việc tu học. Thực tế là các bậc phụ huynh còn chưa hiểu nổi thì làm sao tuổi trẻ – nhất là khi các em ở nước ngoài, nói tiếng nước ngoài – lại có đủ sức để hiểu, để yêu mến và ham thích học Phật cho được.
- Về hoạt động thanh niên: Nội dung lễ nhạc, các bài hát tập thể, các trò chơi sinh hoạt, các môn sinh hoạt ngoài trời… vẫn chỉ mới ở mức độ tạm “sống còn”, chưa tạo ra được sự sinh động và cuốn hút cho tuổi trẻ. Trong lúc đó, thế giới “games” muôn màu muôn vẻ, điện thoại di động, vi tính truyền thông… đã lôi kéo nhiều tâm hồn tuổi trẻ một thời gắn bó với GĐPT ra khỏi quỹ đạo của chùa chiền.
- Về mặt lãnh đạo và chỉ đạo: Hiện trạng có tới 3 (hay nhiều hơn?) Ban Hướng dẫn GĐPT Trung Ương GĐPT tại Hoa Kỳ đã làm cho nhiều người, kể cả chư tôn đức, các nhân vật trong GĐPT, trong các đạo tràng và quần chúng… ngạc nhiên và hoang mang. Biểu hiện thông thường là giới đàn anh ở tư thế lãnh đạo không hòa hợp được với nhau, không giải quyết được những mâu thuẫn, xung đột, khác biệt nên “chia tay” và kéo theo đàn em chia GĐPT thành nhưng đơn vị ly khai nhau theo vùng, theo khuynh hướng… Sự phân hóa nầy đã làm cho hệ thống GĐPT Việt Nam Hải ngoại chững lại và khó có thể phát huy được vai trò tích cực để mong làm chiếc cầu kế thừa cho hai thế hệ Phật tử, già đang qua; và trẻ đang đến, trong dòng chảy của Phật giáo Việt Nam tại Hải ngoại có sự tương tác cần thiết.
Muốn xây dựng một chương trình giáo dục GĐPT lành mạnh, có hiệu quả, cần phải vận động một cuộc chấn chỉnh nội bộ GĐPT Việt Nam Hải ngoại càng sớm càng tốt. Nếu chưa có được một giải pháp hóa giải cấp thời ổn thỏa và êm đẹp giữa các thành viên có trách nhiệm đang ở vai trò lãnh đạo vả chỉ đạo, tại sao chúng ta không tạm dùng phương thức “đa lưu chi” (nhiều nguồn nhánh) theo mô thức dân chủ pháp trị đa nguyên của Mỹ. Nghĩa là các đơn vị GĐPT vẫn giữ nguyên vị trí của mình như hiện nay, nhưng đại biểu của đơn vị có thể ngồi lại với nhau – như các đảng Dân Chủ, Cộng Hoà và Độc Lập Mỹ – để hoạch định một đường lối giáo dục chung, thích nghi cho GĐPT, tiến tới một khả năng chấn chỉnh toàn diện và tốt đẹp phục vụ cho con đường giáo dục và tu học của thế hệ Phật tử đàn em nói chung.
Một hình thức “Liên Hiệp Ban Hướng Dẫn GĐPT Trung Ương…” trong lúc cấp thời nầy là một khả năng tích cực có thể thực hiện được tương đối công bằng và hợp lý.
Ba mươi năm qua, Phật giáo và GĐPT Việt Nam tại hải ngoại vẫn chưa qua khỏi giai đoạn “chuẩn bị” trong việc xây dựng cơ sở vật chất và nề nếp sinh hoạt nên tác dụng hoằng dương Phật Pháp chưa thâm nhập được vào xã hội phương Tây như Phật giáo Tây Tạng, Đài Loan, Tích Lan, Nhật Bản.
Thế hệ huynh trưởng GĐPT có tâm huyết và kinh nghiệm nay đều đã ngoài 60. Các anh chị không còn nhiều thời gian để đắn đo và chở đợi một giải pháp “đèn thần” nào đó đến từ bên ngoài. Sự nghiệp lớn nhất của người huynh trưởng GĐPT là sự truyền thừa một giá trị cụ thể nào đó cho các em. Chúng ta chỉ còn lại một tấm lòng và một sự hy sinh cần thiết để cởi bỏ những định kiến, mặc cảm, hiểu lầm hay chưa hiểu hết… để ngồi lại với nhau.

V. Kết luận.

Tiêu đề cho khóa hội thảo huynh trưởng Gia Đình Phật Tử Việt Nam tại Hoa Kỳ năm 2009 là GIÁO DỤC TRONG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ. Giáo dục là một vấn đề truyền thống ngỡ như quá quen thuộc và xưa cũ; nhưng thật ra, cứ mỗi hình thái xã hội, văn hóa, thời đại nào thì có một nền giáo dục tương ứng cho hoàn cảnh đó.
Sau gần 60 năm hoạt động, GĐPTVN đang đứng trước nhiều vấn đề và nhiều thử thách mới. Nhưng 3 vấn đề nổi bật, đòi hỏi giải pháp thức thời và khả thi là:
- Tình trạng phân hóa nội bộ.
- Sự khác biệt về văn hóa, xã hội, ngôn ngữ giữa hai hoàn cảnh quê nhà và quê người; cũng như giữa hai thế già và trẻ tạo ra nhiều khó khăn, trở ngại.
- Khuynh hướng chính trị và xã hội dị biệt đưa đến cách nhìn và cách hành xử khác nhau.
- Thế hệ huynh trưởng đàn anh thiếu chuẩn bị để trao truyền sự kế thừa cho thế hệ đàn em.
Vai trò giáo dục thuần túy không phải là chiếc đũa thần để giải quyết những vấn đề khó khăn vừa nêu trên đây. Tuy nhiên, mọi sự thay đổi lâu dài và cơ bản của một hệ thống tổ chức đoàn thể lớn như GĐPT phải bắt đầu từ giáo dục. Giáo dục đóng vai trò gieo ý thức để chuyển hóa hành động.
Lịch sử sinh hoạt tập thể có những quy luật đào thải riêng của nó. GĐPT tất nhiên không phải là một ngoại lệ. Phương châm hành động của đạo Phật là “tự mình thắp đuốc lên mà đi”. Nếu chịu khó quan sát thật kỹ và tìm hiểu với thế hệ trẻ đoàn sinh GĐPT tại Hoa Kỳ thì hơn 80 phần trăm ngôn ngữ các em dùng với nhau là tiếng Anh. Văn hóa Mỹ đậm nét trong suy nghĩ và tâm hồn các em hơn là Việt. Thành phần huynh trưởng trẻ và năng nỗ nhất thì phải hết sức vất vả mới giữ cho mình ở tư thế song ngữ (bi-lingual) và song văn hóa (bi-cultural) Việt Mỹ. Thành phần huynh trưởng lớn tuổi ngày một hiếm chỉ còn đứng trong vai trò cố vấn và chỉ đạo. Thế nhưng, trên “mặt trận” quyền lực thì chính những vị cao niên nầy lại dày công vận động năng nỗ và sử dụng nhiều đòn phép bất tịnh nhất. Tại sao hiện tượng nghịch lý nầy lại tồn tại trong hệ thống GĐPT Việt Nam?
Vì tương lai của thế hệ đàn em, với trí tuệ tam bảo, cầu mong định lực của chư tôn đức và thiện tâm của chư vị có trách nhiệm đưa GĐPT vượt qua những trở ngại nhất thời. Cấp thời trước mắt là xin quý huynh trưởng lãnh đạo, cố gắng bắt tay nhau chấn chỉnh GĐPT, soạn thảo một chương trình giáo dục cho GĐPT trước khi quá muộn màng, buộc phải buông tay trước quy luật đào thải tự nhiên không aì tránh khỏi.
Cựu huynh trưởng
Nguyên Thọ Trần Kiêm Đoàn

sachhiem.net

Huynh Trưởng và Huynh Sai trong Gia đình Phật tử

- Tổ chức GĐPT có trên 60 năm, tiền thân của GĐPT là Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục, Gia Đình Phật Hóa Phổ… đây là một tổ chức Đoàn thể đặc thù tại nước VN có Nội quy, Quy chế, Chương trình tu học …..
Trải qua bao nhiêu năm thăng trầm của đất nước, GĐPT vẫn hòa quyện với Đạo Pháp với Xã hội. tôi may mắn sinh hoạt GĐPT trong khoảng hơn 50 năm, với 45 năm là Huynh trưởng lăn lóc từng cuộc trại, bôn ba từng cuộc lễ lược của GĐPT và cũng từng những giọt nước mắt rơi xuống vì vui sướng và cũng vì thất vọng, có những lúc khắc nghiệt nhất chiếc áo Lam vẫn cùng tôi trong hành trình của cuộc đời. Vì thế tôi đã thấy được những ưu điểm của GĐPT nơi đã đào luyện và un đúc cho từng từng lớp người đến với GĐPT, và trong thực tế GĐPT đã cung ứng cho Đạo Pháp và xã hội nhiều nhân tố tích cực đóng góp nhiều cho công việc Phụng sự Đạo pháp và Xây dựng xã hội theo đúng như Mục đích của GĐPT.
Trong thời kỳ Pháp nạn (từ 1963 – 1966) nhiều Huynh trưởng Đoàn sinh GĐPT  đã hy sinh trong công cuộc Bảo vệ Đạo pháp và có nhiều vị được phong là Thánh Tử Đạo. Rồi số người mà tôi biết và thấy được giờ cũng quá trưởng thành trong cuộc sống, có người là Bác sĩ, Kỹ sư, là Doanh nhân thành đạt, và cũng nhiều người đã từng là Bí thư Đoàn, Đảng, hoặc Cán bộ quản lý các cơ quan nhà nước. Tôi đưa ra ví  dụ thế nầy là để minh chứng cho việc thành quả của tổ chức GĐPT trong việc cùng Xã hội Giáo dục – Đào luyện con người tốt cho đất nước.
Trong quá trình hoạt động cùng các đồng sự đưa Tổ chức GĐPT tại địa phương có những lúc thật thăng hoa nhưng rồi cũng có lúc chìm lắng…. thế sự vô thường là thế cũng có khi vầy cũng có khi khác, nhưng trong hoạt động cùng anh chị em đồng sự tôi thấy được trong hàng ngũ Huynh trưởng có 02 thành phần cơ bản khác nhau rõ rệt.
Một vài phân tích ngắn dưới đây chia sẻ cùng các anh chị em Lam viên bốn phương:
-Thành phần thứ nhất: HUYNH TRƯỞNG GĐPT CHÂN CHÍNH:
Đây là những anh chị em dấn thân vào Lý tưởng, có tư cách, phong thái thật tốt, dám nói dám làm luôn trăn trở cho sự sinh hoạt của GĐPT. Người Huynh trưởng chân chính là sao? Là người được đào tạo qua các khóa huấn luyện trong tổ chức như Lộc Uyển - A Dục - Huyền Trang - Vạn Hạnh. Hơn nữa, họ luôn giữ gìn Tam quy Ngũ giới mà người Phật tử đã thọ trì trước ngôi Tam bảo, luôn sống trong tinh thần Lục hòa, biết áp dụng Pháp môn Tứ Nhiếp vào trong cuộc đời - luôn lấy châm ngôn  Bi – Trí – Dũng, 5 điều Luật của GĐPT làm hành trang trong cuộc sống.
Nhìn phong cách một Huynh trưởng GĐPT chân chính, chúng ta thấy rằng những anh chị nầy làm việc rất minh bạch, trong sáng, luôn biết nhận lỗi về mình, không kết bè phái, người Huynh trưởng GĐPT chân chính là người luôn lấy tình yêu thương trãi rộng đến mọi người, biết phân biệt đúng – sai không a dua nịnh bợ và dũng cảm dám góp ý thẳng thắn cùng đưa GĐPT phát triển.
-Thành phần thứ hai: HUYNH SAI GĐPT và những biểu hiện của “HUYNH SAI”:
Huynh sai cũng là Huynh trưởng vẫn chịu sự huấn luyện qua các khóa, nhưng do nhiều yếu tố tiêu cực, có lối sống sai lệch nên hiện nay trong tổ chức GĐPT  chúng ta đã và đang có phát sinh theo cấp số nhân thành phần nầy. Đó là những Huynh trưởng mang tính a dua, ba phải ... ai nói sao làm vậy, đôi lúc thấy cái sai của đàn anh cũng không dám nói vì sợ bị trù dập sợ đủ thứ cả… và số Huynh trưởng nầy trở thành thụ động trong mọi công tác.
Điều đáng nói hiện nay số lượng Huynh trưởng nầy không ít trong tổ chức GĐPT chúng ta, đa số người nầy đều biểu hiệu  dua nịnh, thậm chí sẵn sàng trù dập đồng sự để lấy lòng cấp trên. Dù thấy cấp trên sai mười mươi nhưng vẫn bảo vệ bằng lời bào chữa:"THÔI KỆ, MẤY ẢNH LỚN RỒI …THÔI THÔNG CẢM", như vậy người ta chấp nhận trong GĐPT mấy người lớn được làm bậy? Vậy tổ chức nầy còn giáo dục, đào tạo được ai? Có chăng là đào tạo … Huynh Sai
Đa phần những Huynh trưởng nầy rất khoái được phong cấp , luôn luôn thòm thèm được mang nhiều hột, Tập thì muốn Tín, Tín thì muốn Tấn, Tấn thì muốn cao hơn nên chấp nhận lời chửi bới, mắng nhiếc và vẫn cúi đầu tuân phục để hy vọng được ban cho tí lời khen. Thực tế cho thấy đối với những HUYNH SAI thì SỐ HỘT HỌ ĐEO tỷ lệ thuận với THỜI GIAN sinh hoạt và kỹ năng NỊNH NÓT, nhưng tỷ lệ nghịch với NĂNG LỰC
Rồi số nầy còn mong mỏi được bố trí vào vị trí Ban tổ chức hay Ban Quản trại nào đó (nhiều khi tham gia cho có chứ chẳng biết làm chi, có làm thì càng làm càng lộ yếu kém, thiếu năng lực của bản thân), không hiểu cả đời số Huynh trưởng nầy có tham gia vào BQT huấn luyện nào không nhưng giờ mà được cho tham gia cùng là vểnh mặt lắm. Bởi tính cách như vậy nên tôi xếp vào hàng ngũ là HUYNH SAI GĐPT, đôi lúc nhìn lại tôi thấy tội nghiệp cho số HUYNH SAI nầy vì làm người đã là khó mà họ không biết làm HUYNH TRƯỞNG lại càng khó hơn./..
Quang Minh
gdpt Trúc Lâm

Một góc nhìn giáo dục Gia đình Phật tử



Một góc nhìn giáo dục Gia đình Phật tử
 
Tác giả bài viết này đã sinh hoạt liên tục mười năm trong Gia đình Phật tử - GĐPT Phú Lâu, TP Huế, bắt đầu từ năm 15 tuổi với nhiệm vụ của một đoàn sinh thiếu niên và kết thúc ở năm 25 tuổi với chức vụ của một uỷ viên ban hướng dẫn. Từ đó đến nay, một nửa thế kỷ đã trôi qua và nhờ vậy, đã có một khoảng cách để nhìn lại Một góc nhìn giáo dục Gia đình Phật tử.

1. Sinh hoạt Gia đình Phật tử rèn luyện cho chúng tôi kỹ năng nói trước quần chúng

Thời thơ ấu, chúng tôi là một đứa bé nhút nhát. Năm 15 tuổi, tuổi bắt đầu khôn lớn,  vẫn không dám xuất hiện trước đám đông. Cho nên, khi ông anh con bà dì lớn hơn một tuổi “rủ” vào Gia đình Phật tử, chúng tôi cứ hẹn rày hẹn mai vì sợ “bị” đưa ra giới thiệu trước mặt nhiều người.

Cuối cùng thì ngày trình diện trước đông đảo đoàn sinh Gia đình Phật tử Chơn Tri gần chợ Cống ở hữu ngạn sông Hương cũng đến và những ngỡ ngàng ban đầu rồi cũng qua đi. Mấy tháng sau, với chức vụ đội trưởng đội sen vàng, chúng tôi tập nói trước bảy tám đội viên. Hai năm sau, làm đoàn phó rồi đoàn trưởng đoàn thiếu niên, chúng tôi  tập nói trước hàng chục đoàn viên. Ba năm sau làm liên đoàn trưởng, đã có đủ bạo dạn để nói trước nhiều người. Đến khi làm việc ở đời sống trại trong những trại họp bạn, chú bé sợ xuất hiện trước đám đông ngày nào nay đã khôn lớn và đã có đủ tự tin để nói lưu loát trước mấy trăm trại sinh. Qua kinh nghiệm bản thân, chúng tôi nhận ra rằng nhút nhát mà có cơ hội tập luyện để thắng tính nhút nhát thì người ta sẽ nói sôi nổi, hấp dẫn và có khả năng lay động lòng người.

Vào Đại học Sư phạm, đi thực tập, chúng tôi biết ơn Gia đình Phật tử vô cùng. Bởi lẽ, trong khi một số bạn cùng lớp đã thất bại vì không giữ được bình tĩnh khi xuất hiện trước nhiều học sinh, chúng tôi đã thành công ngay từ bài giảng đầu tiên vì đã quen ăn nói trước quần chúng.

2. Sinh hoạt Gia đình Phật tử luyện tập cho chúng tôi kỹ năng sống tháo vát

Trong gia đình, là người con trai chào đời sau ba người chị, chúng tôi lớn lên trong sự cưng quý và chiều chuộng của bà nội và cha mẹ. Mọi việc trong nhà đều đã được người lớn sắp đặt, lo liệu, đứa cháu đích tôn chỉ biết vui chơi và lo học hành.

Vào Gia đình Phật tử, làm đoàn sinh, làm đội trưởng, nếp sinh hoạt của bản thân bắt đầu thay đổi. Ba bốn tháng, một ngày trại được tổ chức, chúng tôi phải đi bộ năm sáu cây số, mang ba lô nặng cùng với những vật dụng lỉnh kỉnh khác để dựng lều, làm bàn ăn và sửa soạn các bữa ăn. Rồi phải leo đồi hay chạy băng đồng để chơi trò chơi lớn. Trong một năm, Gia đình Phật tử thường tổ chức một vài đêm văn nghệ. Làm văn nghệ thì phải dựng sân khấu và công việc nặng nhọc ấy là nhiệm vụ của đoàn thiếu niên. Với chức vụ đội trưởng, cậu thư sinh là chúng tôi ngày ấy tự giác tự nguyện làm công việc của một người lao động chân tay thực thụ. Đội trưởng cầm càng xe vận tải đi trước, vài ba đội viên ra sức đẩy ở phía sau, chúng tôi đến nhà của các đoàn sinh mượn những tấm phản và thùng phuy để dựng sân khấu trình diễn văn nghệ. Đêm văn nghệ hoàn tất, các huynh trưởng, những đoàn viên thiếu nữ và các em oanh vũ đã có thể nghỉ ngơi. Nhưng các đoàn viên thiếu niên vẫn còn lo dọn dẹp sân khấu và tiếp tục cầm càng xe, đẩy xe vận tải một buổi nữa để trả các thứ vật dụng đã mượn.

Mười năm sống tháo vát với Gia đình Phật tử đã đem lại cho chúng tôi một lợi thế trong bốn mươi năm theo nghề dạy học. Trong khi phần đông bạn đồng nghiệp chỉ quen với các công việc chuyên môn như soạn bài, chấm bài ở nhà hoặc giảng bài trong lớp học, chúng tôi còn tỏ ra thành thạo trong những hoạt động thanh niên ở ngoài trời như tổ chức cắm trại, thi đua thể thao, thực hiện những chuyến đi làm công tác xã hội, v.v... Cuộc sống của người thầy giáo nhờ vậy trở nên sinh động, tươi trẻ và có nhiều ý nghĩa hơn.

3. Sinh hoạt Gia đình Phật tử giáo dục chúng tôi biết quên lợi ích cá nhân để làm quen với những việc làm có tính vị tha vô ngã

Chẳng có ai nghĩ rằng vào Gia đình Phật tử thì sau này ra ngoài đời mình sẽ có cơ hội thăng quan tiến chức. Cũng không ai hứa hẹn với chúng tôi vào Gia đình Phật tử thì mỗi đoàn sinh sẽ được thụ hưởng ít nhiều lợi ích vật chất. Ban đầu, thành thật mà nói, chúng tôi vào Gia đình Phật tử vì ham vui. Có thể nói đó là một cách chơi, một hình thức giải trí vô vị lợi. Không nhận sự tài trợ của bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào, mỗi đoàn sinh chúng tôi tự nguyện đóng góp một số tiền nhỏ do mình dành dụm được để cùng vui chơi với nhau. Lần hồi, qua những buổi họp đoàn hàng tuần và những sinh hoạt có tính tập thể khác, chúng tôi làm quen với chánh pháp rồi thấm nhuần giáo lý vị tha vô ngã của Đức Phật , từ đó, thích làm việc thiện, biết tôn trọng sự thật và nếu cần thì chịu hi sinh quyền lợi riêng để hoàn thành một công việc chung.

Trong pháp nạn năm 1963, chúng tôi đang giữ chức vụ liên đoàn trưởng Gia đình Phật tử Phú Lâu là hậu thân của Gia đình Phật tử Chơn Tri. Khi tổ đình Từ Đàm bị bao vây, huynh trưởng và đoàn sinh nhiều gia đình bạn đều tìm cách lên chùa Từ Đàm để thể hiện tấm lòng son sắt thủy chung đối với dân tộc và đạo pháp. Trong hoàn cảnh ấy, dù đang bận ôn thi tốt nghiệp Đại học Sư phạm, chúng tôi cũng không thể cho phép mình ngồi yên với sách vở. Phải quyết tâm “đi chùa” một lần để lương tâm bớt cắn rứt. Nhưng đi như vậy là rất nguy hiểm, vì có thể “ăn” lựu đạn cay hoặc lựu đạn thật. Để chia bớt trách nhiệm, chúng tôi dặn đoàn sinh về nhà xin phép phụ huynh, em nào được sự chấp thuận của gia đình mới nên “đi chùa”. Kết quả là có khoảng hai mươi em, gần một phần ba số lượng đoàn sinh, đã tham dự chuyến đi nhiều hiểm nguy ấy. Giữa đường, may mắn không bị ném lựu đạn, nhưng chúng tôi phải dừng lại một vài lần, vì các đường dẫn lên chùa đều bị phong tỏa. Nhưng cuối cùng thì đoàn “hành hương” của những người con Phật cũng đến đích bằng cách đi lên phía nhà ga Huế rồi theo đường Lịch Đợi mà đến chùa Từ Đàm.

Nhờ mười năm sinh hoạt Gia đình Phật tử mà về sau này chúng tôi không quá so đo tính toán lợi ích cá nhân mỗi khi thực hiện một nhiệm vụ do tập thể phân công.

4. Sinh hoạt Gia đình Phật tử hướng dẫn chúng tôi sống theo Bi-Trí-Dũng

Bi–Trí–Dũng là phương châm hành động của Gia đình Phật tử Việt Nam. Lý tưởng sống này được thể hiện trong một lần đi cứu trợ lũ lụt được lược thuật dưới đây.

Năm 1964, chúng tôi dạy học ở trường Cường Để Qui Nhơn và đồng thời giữ chức vụ tổng thư ký ban hướng dẫn Gia đình Phật tử Bình Định. Giữa năm ấy, một trận lũ lớn tàn phá một số huyện thuộc tỉnh nhà. Trong số đó, Hoài Ân là huyện bị thiệt hại nhiều nhất. Nhiều vật phẩm cứu trợ đã được chuyển đến huyện, nhưng chính quyền địa phương không thể phân phát cho dân vì lý do an ninh. Tòa hành chánh tỉnh Bình Định phải nhờ đoàn sinh Gia đình Phật tử mang quà cứu trợ đến tận tay nạn nhân lũ lụt.

Vì hạnh từ bi, với mục đích thêm vui bớt khổ cho đồng bào, ban hướng dẫn và một số đoàn sinh Gia đình Phật tử ở Qui Nhơn quyết tâm thực hiện một chuyến đi cứu trợ nạn nhân lũ lụt. Đó cũng là một quyết định dũng cảm. Bởi vì huyện Hoài Ân lúc đó chỉ quản lý được một ít xã lân cận, một số xã ở xa đã thuộc quyền kiểm soát của quân giải phóng, còn lại là những vùng đất “xôi đậu” ban ngày thuộc về lính quốc gia nhưng ban đêm lại theo quân du kích. Mang vật phẩm đi cứu trợ trong hoàn cảnh ấy, đoàn sinh Gia đình Phật tử có thể bị kết án tiếp tay với chính quyền địa phương để tranh thủ cảm tình của nhân dân mà mở rộng phạm vi ảnh hưởng.

Trưởng ban hướng dẫn Gia đình Phật tử Bình Định khi ấy là anh Nguyễn Văn Châu. Anh Châu khôn ngoan, sắc sảo biết rõ tính bất trắc, ẩn chứa nhiều hiểm nguy của chuyến đi làm việc thiện. Không nói ra điều mình suy nghĩ vì sợ anh chị em mất tinh thần, bằng trí tuệ của một huynh trưởng cấp Tín, Anh Châu âm thầm sắp xếp công việc để chuyến đi được an toàn. Nguyên tắc được đặt ra là phải làm thế nào để đồng bào địa phương biết rõ việc nghĩa này được thực hiện trong phạm vi tôn giáo, thể hiện tình tự dân tộc của đoàn sinh Gia đình Phật tử. Theo nguyên tắc ấy, ở Qui Nhơn, chúng tôi đóng góp tiền túi để thuê xe về Hoài Ân, dù biết rằng tòa hành chánh tỉnh Bình Định sẵn sàng cung cấp mọi phương tiện. Mặt khác, ngoài tự túc số gạo đủ ăn trong năm ngày, mỗi thành viên của đoàn chỉ mang theo hai loại thức ăn là muối mè và vị tâm. Đến Hoài Ân, thay vì vào ở trong quận đường, huynh trưởng và đoàn sinh chia nhau tạm trú tại nhà dân. Để có nhiều thì giờ lo việc phân phối phẩm vật cứu trợ, mỗi ngày chúng tôi chỉ mua thêm một ít rau tươi để sửa soạn những bữa ăn giản dị, đạm bạc.

Hành động theo phương châm Bi–Trí–Dũng, đoàn sinh Gia đình Phật tử đã thực hiện thành công chuyến đi cứu trợ nạn nhân bão lụt trên một vùng đất còn nhiều súng đạn và thù hận.

5. Sinh hoạt Gia đình Phật tử huấn luyện cho chúng tôi phương pháp thân giáo và ý thức trách nhiệm của người chỉ huy

Các triết gia phương Đông sống với chân lý nhiều hơn nói về chân lý. Theo tinh thần ấy, các vị đạo sư tâm linh ít rao giảng đạo đức, không muốn dùng phép tắc, lễ nghi khắt khe để buộc đệ tử khép mình vào khuôn khổ của giáo điều. Các Ngài thực hiện phương pháp thân giáo bằng cách lấy chính đời sống đạo hạnh của mình làm gương sáng để môn sinh tự giác, tự nguyện theo đó mà tu sửa thân tâm.

Sinh hoạt nhiều năm trong Gia đình Phật tử, được gần gũi các huynh trưởng khả kính như chị Hoàng Thị Kim Cúc và các anh Nguyễn Khắc Từ, Phan Văn Gái, Nguyễn Văn Châu, v.v… chúng tôi đã học tập ở các anh,  chị lối sống trung thực, giản dị, khiêm tốn mà dũng cảm của người Phật tử chân chính. Hiệu quả của phương pháp thân giáo này và cách thức thụ giáo gọi là huân tập ấy, Tổ Quy Sơn đã nói rõ khi sách tấn đệ tử gắng công tu tập: “Sống gần người bạn tốt như đi trong sương, tuy áo không ướt nhưng lần hồi cũng thấm”.*

Sinh hoạt mười năm trong Gia đình Phật tử, trừ mấy tháng làm đội viên, chúng tôi đã đảm trách nhiệm vụ của người chỉ huy khi làm đội trưởng, đoàn trưởng, liên đoàn trưởng và tổng thư ký ban hướng dẫn. Trong Gia đình Phật tử, vì không có quyền lợi để ràng buộc nhau, chúng tôi chỉ biết đề cao những giá trị tinh thần, cố gắng sống mẫu mực để làm gương cho đoàn sinh noi theo. Gặp hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm, cách nêu gương sáng hiệu quả nhất là nhận lãnh trách nhiệm chèo chống con thuyền gia đình như một vị thuyền trưởng biết “đứng mũi chịu sào”…

Lần “đi chùa” trong pháp nạn năm 1963, dù biết có thể bị phê bình là liên đoàn trưởng mà làm việc thiếu tổ chức và không biết phân công, chúng tôi vẫn nhận nhiệm vụ khó khăn nhất là dẫn đầu đoàn “hành hương” và sẵn sàng hứng chịu sự đàn áp hay tấn công thay cho các đoàn sinh. Trong lần đi cứu trợ bão lụt năm 1964, không hẹn mà nên, anh Nguyễn Văn Châu và chúng tôi đều “xung phong” đi tiền trạm xã An Tín là địa điểm xa xôi nhất và mất an ninh trầm trọng nhất của huyện Hoài Ân. Xã An Tín ở bên này một con sông thì bên kia sông là vùng giải phóng. Nghỉ trưa trong một ngôi chùa vắng, chúng tôi nghe đồng vọng tiếng trống ếch của thiếu nhi ở bờ bên kia. Lên trạm thông tin ở trên đồi cao để  liên lạc với huyện, chúng tôi phải bò vì sợ bắn tỉa. Trong khi đó, chưa quá bốn giờ chiều mà văn phòng xã đã đóng cửa, nhân viên “sơ tán”, còn hai cái ba lô chúng tôi gởi thì bị bỏ lại ở bên đường… Nhờ chư Phật gia hộ, trong cả hai lần làm gương bằng cách “đứng mũi chịu sào ấy”, chúng tôi đều được bình an vô sự.

Giáo dục Gia đình Phật tử được trình bày ở đây được ghi nhận qua kinh nghiệm sống và theo “góc nhìn” của một người, trong thời gian ngắn từ 1955 đến 1965, tại  không gian hẹp là thành phố Huế và Qui Nhơn. Chúng tôi nghĩ phải có sự chung sức chung lòng của nhiều người thuộc nhiều thế hệ mới có thể phác họa được toàn cảnh với đủ đường nét và sắc màu đậm nhạt khác nhau của bức tranh giáo dục Gia đình Phật tử Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ vừa qua. Nhưng đó là vấn đề khác.

Tâm Hỷ
Nguồn tin: Nguồn Tập San Pháp Luân 76
Created By Sora Templates